tư vấn bao la vạn sự

Diễn cầm tam thế - Căn duyên tiền định

Số 34: Giải Giác hồng trần

Cập nhật : 05/07/2014
Lúc tâm thần bình tĩng biện bạch đôi lời “ cổ ngữ” lưu truyền. Có lời của Đức Phật tổi tù tôn nói rằng, tiên giác nhi hậu giác tha.
 

S 34: Giải Giác hồng trần

c tâm thần bình tĩng biện bạch đôi lời “ cổ ngữ” lưu truyền. Có lời của Đức

Pht tổi tù tôn nói rằng, tiên giác nhi hậu giác tha.

Nghĩa: Biết trước cho người  khác biết sau, Đời nhà Hớn: có ông Hàn Công nói rằng, Biết mà không nói, thì đại bất nhơn.

Nói không đủ lời đại  bất nghĩa.

vạy mà xét phận hỗ thầm nên tôi gắng công tìm soạn trích lục đạo trong chốn hồng trần, xin kết dưới đây.

Cuc Tam Hoàng Xuất Thế,

Trên  mới đức Thiên Hoàng Thượng Đế.

Dưới mói có đức Thiên Hoàng Hạ Đế.


 

Dưới  nữa Đức nhơn Hoàng  Hạ Đế.

Trời   Nhựt, nguyệt Tinh. Đất Thủy  Hỏa  Phong, Người Tính Khí thần. Lời kết luận

Trời Dương Khí, đất có Am Khí,

Am dương tương hiệp mới được  hóa sanh. Chừng  ấy mới hóa tượng  thành khi ngủ thái. Nhứt, khí thái duyệt sanh thủy,

Nhì, khí thái sanh hỏa, Tam, khí thái thủy sanh mộc, Tứ, thái tố sanh kim,

Ngũ, khí thái cực sanh thổ, Chừng ấy phù tam ngươn kỳ cực.

Kết thành tam bửu, ngũ hành thiên can, địa chi, cửu tinh, nhì thập  bát tú. Đồng  thọ mạng  lịnh của Đức Thiên  Hoàng tạ trấn bốn phương tám hướng.

Lại con khắp  cả thế gian năm  vị: Đông phương: Thanh Đế thuộc mộc, sắc xanh, Nam phương: Xích đế thuộc  hỏa,  sắc đỏ,

Tây phương: Bạch  đế thuộc kim, sắc trắng, Bắc phương: Hắc đế thuộc thủy, sắc đen. Trung phương: Huỳnh  đế thuộc thổ, sắc vàng.

Ơ trong thế giớ năm  vị trấn  khắp  cả ngũ phương.

Lại còn Thập Thiện  Can, tức mười vị thần.

Hai mươi tám vị tinh tú, trấn thủ khắp  cả càng  không.

Con nội trong trung ương thêm   thần năm, thần thánh, thần ngày, thần giờ, hành sự chuyển khiến cho người thế   gian, hoạ phước báo ứng, theo vận mạng ứng hiện

cho nhơn thể.

Trong nhơn thể phù tam, đượng Tính Khí Thần.

Nghĩa: Tinh trai cật, thuộc thủy  tinh.

Khí hơi thở, thuộc mộc khí. Thần là hồn,  trái tim thuộc hỏa thần.

Trong nhơn thể của người nhờ 3 vị thần hồn, mới sống được,  trong nhơn thể có ngũ hành, tức ngũ  tạng.

Bộ tâm thuộc  hỏa              Bộ cang thuộc Mộc

Bộ thuộc thổ  Bộ phế thuộc kim

Bộ phận thuộc thuỷ

Nhơn thể đủ ngũ hành, nếu không biết xử trí, thì hoá thành ngũ quỷ.

lục phủ, không  biết xử trị, thì hóa thành lục tặc.

thất tinh, không thông biến, thì hóa thành  thất tình, Cứu tinh, không thông dụng, thì hóa thành  trí độ.


 


 

 

đạt.


thập niên cang, không  mở đường  thông  huệ, thì hoá thành  mất đường  hiển

 

 

thập nhị địa chi, không luyện tập chí khí, thì hóa thành   thần  khiếp


nhược.

Đây   bộ máy huyền của hóa chuyển  động lòng trời đất biết trước rồi. Ngày những đêm phải dùng cái phép bình tâm, tịnh trí suy xét để chống  trị các

phái lương, trong  lòng   mới sanh biến,  nên diệt trừ các loạn  thần trong nhơn thể, phải giữ dạ tư, đừng cho bọn ngũ quỷ, hiệp với bọn lục tặc, làm Điều lộng lạc,  tung hoành,  nếu để vậy lâu ngày thành  tánh  rồi hành  sự như sau đây, kiếp đâu để chị luân hồi đền tội cho đủ.

Sớm sửa tánh, để tránh một trăm ba mươi mốt Điều  tôi kể sau đây.

Bộ Khẩu

Tại cài miệng  ăn nói chẳng  lành, Căn Nào _ Quả Nấy

Kinh Thiên, Thị Địa:             Bá hoạ  giảng  ương,


Kinh Thánh, Thị Thần:


Cầu nguyện linh,


Mắng  gió chửi mưa:                     Ngày cuồng đền tội, Thờ Phật lấy danh: Phi tai lai vảng,

Bội nghịch  mẹ cha: Hậu kiếp mồ côi, Khi thị thân tộc:                                             Bà con xa cách, Hổn ẩu anh em:                                      Cô độc một minh, Bộ nghịch  luân lý: Hoạ sanh nan cứu,

Chê người rách lạnh:                   Chuyển kiếp hàn, Kiêu cách khi người:                                     Chịu  kiếp duyên, Sanh con không dạy:                                        Hoạ họa trùng lai, Biết không  nói: Bị đều lầm lạc,

Dùng linh cảm hoặc:                Mắc mưu liên luỵ, Giả oai hiếp người: Con cháu khiếp nhược, Chỉ đường  lạc nẻo:  Nhản  mục   quang,

Lời nói chẳng  lành: Nhá họa liên sanh, Gạt  gái bỏ gái: Vợ  bỏ thình linh, Lường trai bỏ trai:   Chồng bỏ bất ngờ,

Đặng  thờ chê thất thế:                     Suy sụt nan cầu, Được sanh chê hèn:Đáo đầu bần bạc,

Được mạnh chê yếu:             Chịu  đời suy nhược,


Được  khôn chê khờ:


Lản tâm mất trí,


Xúi con hiếp người:Chịu đời thát thế,

Xúi kiện thưa người:        Con cháu bất hoà, Xúi vợ chồng tan rã:             Gia đạo linh đinh, Chê người cực khổ: Chuyển phú hóa bần,

Thị chúng hiếp cô: Họa sanh nan giải, Cố  ý ăn  lường:      Chịu Điều thua lặn,


 


Thèo lẻo chuyện người:


Tổ tiên phiền  giận,


Miệng hay nói láo: Khó lập thân danh,

Đặt chuyền thình lình:       Ngọng liệu líu lo, Gạt người lấy của:  Chuyển  kiếp thua lường, Huỷ hoại vợ chồng:Kiếp  sau lẻ bạn,

Truyền  khôn bất chánh:  Trả quả loạn tâm,

Phân vân ngạo biến:              Bằng hữu khinh thương, Thề không  nhớ: Oan ương đền tội,


Chê thì người phường:


Con cháu oan ương,


Khinh bỉ nhơn tình: Vô gian bạc phận, Chê thị quê hương: Đổi đời nhiều  xứ,


Nhờ người gạt người:


Chịu  đời thất thế,


Hồ đồ hổm ẩu:                Ngọng  liệu điên cuồng, An không  độ món:  Biến  sanh bịnh hoạn, Nói không  độ lời:       Tai họa thường sanh,

Bộ Tâm

Tại sanh tam Điều chẳng lành, Căn Nào Quả Nấy.

Bỏ mồ ly loạn:             Ba đời lưu lạt,

Hủy hoại  lúa gạo:  Thiếu  ăn thiếu mặc, Em côi anh bỏ:         Giản cảnh thất thời, Thọ ân báo oán:       Con cháu thất thời,

Tánh hay ghét người:                Con cháu duyên, Hủy hoại của tiền: Giản cảnh bần hàn,

Đốt nhà phá của:                Hoang đàng lưu xứ, Sát sanh cầu thọ:                                    Ac lai quả báo,

Sát sanh cầu lợi:          Lão lai thọ khốn, Nuôi thú bán con:      Con cháu phân ly, Giết mẹ bắt con:                      Chuyển kiếp mồ côi,

Thiến con lượm trứng:           Tuyệt tử tôn, Mưu mô phản bạn: Bằng hữu bất trung, Bội ơn bạc nghĩa: sanh con ngổ nghịch,

Giết người đoạt của:                       Làm heo chín kiếp, Giữ của lòng tham: Làm chó một đời,

Hại dân khuấy chúng:           Câm đuôi diệt cùi,

Làm ăn bất lương:  Con cháu cơ hàn,


Quen người đoạt vợ:


Ngục gia nghiệp chướng,


Tiền dâm hậu thú:  Sanh con bất hiếu,


Dùng lửa hại người:


Loạn tâm loạn trí,


Chứa  kẻ gian tham: Ngục hình quê ngục, Phá cầu đào lộ:          Oan gia nghiệp chướng, Rào đường lấp ngõ:Lo việc không thành,


 

Bỏ người hoạn nạn:Cầu phước linh, Lợi mình hại người:Tài tan khó giữ,

Gian công lườn của:         Chịu  đời lầm lạc, Giả nghệ đạt tài: Tai ương quả báo,

Ơn bỏ oán nhờ:                Phước ít hoạ nhiều,

Thuốc hay không  cứu:               Có bịnh  oan gia,


Thuốc độc hại người:


Oan gia chết yểu,


Lương y giả trị:           Báo quả ba lời,

Đo gian đong thiếu:Luân hồi thiếu hụt,

Binh người đặng thế:                   Chuyển  kiếp nhất thời, Mua lận bán lường: Tiền  tài nạn  thủ,

Dùng sức loài vật:   Chuyển kiếp lao suyễn

Hành  khổ tôi tớ:               Con cháu suy tồi,

Lường công đoat của:      Con cháu bồi thường, Mưu kế sâu độc:    Căm khùng đền tội,


Tranh Điềun đoạt thổ:


Con cháu phá tan,


Thọ thai bỏ chồng:


con nghịch với cha,


Thọ thai làm ác:            Con chịu hàm oàn, Cố đâm  ép người:      Thê loạn hữu quyền,

Gái không trung tiết:     Chuyển kiếp ghen tương, Khoe tốt đoạt  tài:  Mắt mưu mất của,

Trước thân sau phản:                Vô duyên bất tính, Đánh hiếp người hiền:                                                Thường sanh tai biến, Tánh tình kiêu thái:Tạo lập không thành,

Tranh danh đoạt lợi:            Người lìa của tan, Hại làng phá xóm:  Phiêu lưu đất khách, Nghề hay không dạy:  Con cháu bất tài, Dùng   ma hại người:                      Đau oan trái bịnh, Được  giàu phụ khó:Giữ của không  bền,

Làm nghề  lột da:    Rách lạnh đơn phương, Làm nghề cắt họng:         Tứ sát huỷ mình, Tự gian làm loạn:  Tai họa an khiên,

Bộ Can:

Tại gan mật muốn làm Điều chẳng lành, Căn Nào – Quả Nấy

Y mình sức mạnh:   ngày chúng đánh, Gần người hung dữ:Lây họa liên can,

Vào rừng săn bắn: Tai họa thình lình, Tánh giận quá độ:   gan sanh bịnh, Hành hung làm giữ:Tai hoạ không chừng, Giết  người  đỡ giận:  Chung thân thọ khổ,

Bộ Tỳ:


 

Tại  hồ khẩu ăn nói chẳng  lành,  Căn Nào Quả Nấy

Phạm tội Đất Địa:  Bịnh suy tuỳ vị, An vật phong độc:   Tỳ vị sanh trùng, An no quá độ:          Tỳ vị trệ,

An nhăm  vật kỵ:Tu suy bạc số,

Bộ Phế:

Tại  hồ khẩu ăn nói chẳng  lành,  Căn Nào Quả Nấy

Khinh thị kim ngân:Bị suy phổi

La nạt  nộ: Hao hơi yếu phổ,

An uống thiệt cay:  Nám  khô phổ,

Vỗ ngực  xung hô:          Phổi động sanh ung,

Bộ Thận:

Tại  hồ khẩu ăn nói chẳng  lành,  Căn Nào Quả Nấy

Tháo nước lấp giếng:       Thận suy bế tắc, Nước   không cho:    Thủy không tế, Dâm dục quá độ:         Thận kém sanh lao,

An vật nóng nảy:                Thận suy khô kém.

Bộ Nhĩ

Tại  cái nghe nên tâm tánh chẳng lành, Căn Nào – Quả Nấy

Chẳng nghe lời lành:              Con cháu hung ác, Không nghe thấy dạy:                                        Con cháu ngỗ nghịch,


Nghe lời chẳng lành:


Con cháu ngu ngoan,


Nghe rên không trợ:      Cầu phước không lành, Tìm nghe mật sự:            Cơ mưu thất bại,

Bộ Nhãn:

Tại mắt thấy, tâm sanh ý chẳng lành, Căn Nào – Quả Nấy


Thấy nên lòng ghét:

Vận thanh phi tiều,

đây.

Thấy chê cươi:        Khó nổi, lập thân,

Thấy đánh không can:            Lâm nạn   thế, Thấy  sắc cố đâm:            Vợ con tâm lạng,

Thấy của gian tham:                  Quán mạnh  báo quả, Thọ ơn không  đền:  Làm ăn thất thế,

Người chốn hồng trần, tốt việc đời rồi. Không  thoát khỏi cuộc luân hồi kể dưởi

 

 

“Phú  Quý”  Bần Tiền,  Tật Ach

gọi   lục đạo lận lận hồi, chuyển  kiếp, bởi chốn hồng trần này người làm phước


ít, làm tội rất nhiều,  như tội kể trước  đây.

Nếu muốn giải thoát chốn luân hồi đày đoạ, thì phải bình tâm thiện tánh lại, tìm cách sửa đổi cái tất lòng lại.

Đừng: quá ham, quá vu, quá sầu, quá giận, quá ghét, qua thương, quá ham, quá oán, quá thù, quá dục động, quá nghe lời.


 

Tác giả vi công bình thù.

Nghĩa:  Làm việc chi, lấy công bình làm đầu.

Tâm phải bình tịnh hỏa hườn, hàng ngày gi lòng được như vậy, thì thoát khỏi bốn cửa luân hồi đồ khổ, lại được đạt  lộ tiêu  diêu  tự tại,  an thân.

Trong bản yếu thiết chơn kinh của nhà đạo Thiên  Lâm nói căn nào quả nấy. Trong bản sách số Diễn  Cầm  Tam Thế,  của Đức Bồ Đề lão Tổ nói rằng,  cuộc luân hồi báo quả,   chuyển  kiếp hiện chắc quả thiệt có.

Trong sách  số Tam Thế nói rằng:

Phật đạo từ bi, quỷ đạo gian, Nhơn đạo hòa đồng, sức đạo sàm, Duy Hữu tu la năng chủ sự,

Quỷ súc chi nhơn quái lẫn tham.

Chú giải:

Đem cái bộ tâm đên chỗ thương nhơn vật,   tâm thành phật đạo. Đem cái bộ tâm đên chỗ hại nhơn vật,   tâm thành quỷ đạo. Đem cái bộ tâm đên chỗ hòa động,   tâm thành nhân đạo.

Đem cái bộ tâm đên chỗ khinh ngạo, tâm thành súc đạo.

Đem cái bộ tâm đên chỗ làm tròn bổn phận,   tâm thành công đạo. Đem cái bộ tâm đên chỗ gian nịnh, tâm thành gian đạo

Nếu xem xét cái tâm chí hàng ngày đều sửa trị cái bản tâm, cho bình tịnh an thần, biết giác ngộ, tự tỉnh phải khuyến  dỗ bọn  lục lang tâm, cho biết tự hòa thuận,  rồi mới tìm đường được giải giác hồng trần thấy thông đường đạc lộ.

Lời: Trưng bằng  hộ chứng

Tìm kiếm điển tích của nhà phật đạo,   sự tích của các chủ đại Tiên ông, chêm đạo nho các vị thất thập nhị hiền.

Hội Tam Giáo  đều nhận  rằng:

Trong nhơn quả phải   quả báo, lại thêm đo Thiên Chúa Giáo   nhân cuộc báo quả.  Nếu  người   lưu tâm huệ cố trong thế sự, thì hiện thấy cuộc báo quả nhãn tiền tại thế.  Còn cuộc  luân  hồi, nhờ kinh sách   ghi chép sự tích truyền lại cho hậu thế, chuyện ràng.

Trong sách Ma Y Thần tướng của ông Trần Hi Di Tiên Sanh Hoa Sơn, ông nói rằng: lòng người chánh thì hình dạng  chỉnh tề, lòng người thì hình dạng đi thấy bộ tướng xao xuyến không an tịnh.

Như trong lòng   chánh,  còn xuất hiện ra ngoài nhơn thể,   tất chi cuộc thiện  ác đáo đầu không  kết quả sao được.

Phân  Giải Hạn  Kỳ Báo Quả

lẽ người đau làm lành? Tại sao hoạn nạn không an?

Đoa cái oan khiên  nghiệp  chướng  của ông bà, hoặc của cha mẹ, hoặc trước

mình tạo ác, chưa kịp đến, hoặc đến chưa rồi, kiếp này đang còn trả quả tiền khiên, vậy khá nên vui lòng lo đền trả. Còn đang làm Điều thiện sự hiện thời thì cứ việc làm,

để lo đền  cái ác quả cho đủ rồi, nếu  mình còn sống, thì được  hưởng cái thiện quả, trong lúc cảnh già.

Hoặc  làm làm vừa rồi kế mãn số, thì cái thiên  quả để lại cho con cháu hưởng,  và kiếp sau mình chuyển kiếp trở lại trần gian, thì được  hưởng cái công Điều thiện quả.

Còn tại sao làm Điều   lương?

đựơc  giàu sang, bởi ông hoặc  cha mẹ, hay kiếp trước của mình làm Điều thiện  tự thi ân huệ nhiều.

Cho nên kiếp này được hưởng giàu sang. Nếu biết làm Điều thiện quả nửa thì có nối truyền duyên phước nữa.

Nếu sanh tâm bất chánh  tâm đều lương, thì hưởng  cái thiện  quả xưa kia hết rồi, thì đáo đầu trở lại chịu   hàn, đồ khổ, thân sơ, bàn bạc.

Chừng  ấy người mãn  số rồi, thì để các ác quả truyền đạt cho con cháu, phải chịu gian truân bàn bạc, thân thất sở, để trủ quả lương ông tạo  để lại đó, còn kiếp sau mình chuyển kiếp trở lại trần gian phải chịu  trả quả lương, kiếp trước của

mình.

Lời Trưng bằng thí dụ:

Trồng cây thì lâu ngày   trái, được no. Trồng khoai mau ngày   củ, được no Trồng  lúa mau ngày   gạo, được no.

Nếu không trồng thì không  trái củ, thì bị nhn đói. Còn cả gan lớn mật phá huỷ lấy ăn không  của người thì bị tội tình, lấy đó suy xét trong cuộc luân hồi báo quả.

Bài: An Thần Tự Tinh

Cái bản tâm mình biết  sử dụng thành tâm thần. Nếu không biết sử dụng  nó thành tâm.

Dầu thần hay tà, cũng  tự mình giáo  dưỡng   hiện  hình, mình không xem nghiệm quan sát, để cho được trọn quyền nhau đồng làm Điều phạm  tội, thì cái tội của làm rồi rốt chuyện, cái họa  khổ của nó, để cho cái nhơn thể thân hình chịu đánh đập, cho tan da nát thịt đày đọa khổ hình

Vây  phải   anh tâm làm, anh Thân chịu khổ nạn. Vậy mình quang minh rồi, phải can thiệp chi kịp thì kẻo để anh Thân, anh Tâm chịu  đại họa khổ hình.

Vậy mình phải biết cảm hóa anh Tâm cho biết tỉnh ngộ, đừng cho anh Tâm làm Điều lộng lạc tung hoành, phải khuyến thiện cho ảnh biết đạo công  bình chánh  kỹ, tồn tam huý, xử ta tư, biết tìm đường tứ nghiệp,  biết phấn khởi giác tha, mỗi ngày ưu tam tinh, nhựt nhựt thường niệm, mạc vong tâm. Được như vậy, thì mới thấy được  lợi lộ

hoằng khai.

Đôi chuyện  trớ trêu

Tại sao người làm lành, tánh chí trung lương an hòa, luận  lý, hiếu  đạo  tề gia, lập thân chánh kỹ.

Tại sao sanh con, rất hùng cường, lại tánh  sát nhơn, làm Điều hung tợn.

Tại sao người làm ác, tánh tình bạc hậu, nghịch thường phi lý, ngỗ nghịch tung hoành, hung ác lập oan.


 

Tại sao sanh con rất hiền  hậu,  lại   tánh  kình nhường làm Điều nhẫn nại.

Chú giải:

Lấy Điều suy cổ nghiệm kim, thì nhận thấy mấy vị phụ mẫu của Hoàng Thái Tổ, và mấy vị mẫu nghi, vốn người trung lương biết lập chí, làm Điều  thiện  sự,   tánh  an hoà khoan hồng thái độ.

Cha thì tánh  trung lương, mẹ thì gìn giữ tứ đức, lại thêm biết giáo dưỡng thai nhi, làm điều hóa.

Bỏi thế cho nên sanh con cái chí lớn, dám đem thân ra bồi đắp non sông, giết kẻ loạn,  cứu an tánh,  giết quân  xâm lăng,  giữ biên  cương, trăm họ được an cư. Có phải   cha mẹ hiền, sanh con hung đữ xem coi phải  vậy  chăng?

Xưa nay những người bội thiên nghịch địa, bội lý, nghịch thường, vong ân, bạc nghĩa, can cường  bỏ phép  công  bình, hung hăng,  hồ đồ, bát thọ, giáo huấn,  gian trá, phi thường, lại thêm không biết cách luyện tập thai sanh, để làm ác sự.

Nên sanh con cái tánh  bất trung, bất hiếu,  bất từ, đến khi đáo đầu nhập

ngục rồi, bị đánh đập, không chống kình lại, bị mắng, chửi cũng nhẫn nại, làm thinh, dầu hình hài tấm thân đến nỗi tan da nát thịt,  cũng chẳng  nói đôi co chi nữa, chừng ấy mới tánh  an hoà nhẫn nại, hiền hậu, suy nghĩ coi phải  vậy  chăng?

Kính tặng chư đọc  giả, câu nào thiếu xin lượng thứ, tôi rất cám ơn.

KHƯƠNG ĐỨC Kính tặng.

Đôi hàng kính tặng

Kính trình Liêt vị khán quan,

Dày công diễn nghĩa  vẹn toàn quyển ni.

Hiệu sách Tam Thế vậy thì, Coi là thường  sự dễ chi hiểu rành, Đoán năm, tháng,  ngày,  giờ sanh.

Coi biết căn kiếp đành rằng chẳng sai.

Đến ngày nhuỵ nở hoa khai,

Cha mẹ nuôi dưỡng biết rày đặng không.

Rủi may ai khỏi trong vòng,

Ngày sanh tháng  đẻ không  đồng  với nhau.

Coi khi lơn tuổi ra sao,

Học hành thi cử xem vào chẳng sai.

Coi số duyên nợ hôm nay,

Vợc hồng thay đổi hoặc rày hiệp tan.

Biết con nhiều ít ràng,

Nương nhờ cậy đặng hoặc hoan nghịch rày.

Sang hèn quả cho hay,

Mình đặng tự biết chẳng sai đâu  là.

Lộc trời nhiều ít cho ta,

An mặc để thiếu  gầm số căn.

Ruộng  vườn tài vật lo hằng, Có không  tự số, chớ hằng tự ta. Công danh chức phận đó là,

không  cao thập xem qua biết rày.

Nghiệp nghề sanh sống tay, Thuận nghề  mới đặng   ngày  lập nên. Muốn hiểu nhà cửa vững bền,

Hai đậu bạc,  cất lên đổi dời.

Tự xem tiền của đầy vơi,

Giàu nghèo tiền định trong đời của ta.

Quyển  này đặng trong nhà, Ay thầy  sẵn chỉ kiết  hung. Mỗi  tuổi  đoán   thuỷ  chung,

Mỗi năm thời vận hạp xung chỉ rành.

Mỗi tháng may rủi phát sanh, Mỗi ngày kỵ hạp  dữ lành  tiên  tri. Thuốc hay cứu bịnh vậy thì,

Sách  này để cứ bỉ suy cho người. Biết đến sống đặng mấy mươi, Cảnh già cực khổ vui tươi thế nào. Đến ngày chung mãn cách nào, Nghiệp thác vào   nơi đâu. Gởi thân  xứ ngõ hầu.

Hoặc xứ khác  ngõ âu đêm ngày, Thấy mặt con cháu hôm nay.

Thân tộc quen thuộc   rày hay không, Từ khi sanh dưỡng trong vòng,

Đến  ngày  nhắm  mắt đủ trong quyển  này.

Đơn nơi vận nơi đây,

Kính chư độc giả giải khuây  cơn sầu.

Xem qua tự hiểu đuôi đầu,

Chớ nên  than trách  buồn  rầu số căn.

Bấy lâu nghe hiệu nói rằng,

Diễn Cầm Tam Thế thật hằng sách hay.

Dày công diễn nghĩa  tỏ bày, Tăng chư Liệt vị nối hoài xem chung. Thi

Dương danh chép gởi để truyền  đời

Công sắp nên bày rạng khắp nơi, Hầu tăng khán quan chư độc giả, Hiệu nghiệm tương lai vận thời,

Khương ninh suy bỉ đều biết trước, Đức thắng  tài chẳng  vẹn  lời, Soạn  thấy sót thưa mong sửa đổi,

Giả ơn đồng chủng nghĩa vơi vơi.

 

 

Khương Đức

 

 

Tiện ích Bambu
Tin liên quan
Bạn cần tìm kiếm?
Advert Advert2 Advert3
TextLink
BAO LA VẠN SỰ

Mobile: 0913 290 384  /  Email: tranngockiem57@gmail.com hoặc tuvan@phuclaithanh.com

Copyright © 2014   BaoLaVanSu. Thiết kế và phát triển bởi Bambu®