tư vấn bao la vạn sự

Sự tích Phật bà Quan thế âm nghìn mắt nghìn tay Chùa Hương tích

Sự tích Phật bà nghìn mắt nghìn tay Chùa Hương tích

Cập nhật : 24/03/2016
Từ phương xa, bà trở về, sẵn sàng khoét mặt, chặt tay chân để cứu sống người đã định hại chết mình. Được độ thành Phật bà lại có cả nghìn tay nghìn mắt cứu vớt chúng sinh, đó phải chăng là chính quả của con đường tu hành gian nan trong cõi người.
 Sự tích "Phật Bà Quan Thế Âm" chùa Hương

Ngày xưa, có một ông vua sinh ra liên tiếp hai người con gái đầu lòng. Không có con trai, vua lo lắng không kẻ nối ngôi, ngày đêm cầu khẩn Trời Phật cho hoàng hậu sinh ra hoàng nam. Nhưng đến khi đứa con thứ ba ra đời, cũng vẫn là con gái. Vua lấy tên thứ ba mà đặt cho công chúa út, giận cho các đấng thiêng liêng đã không phù trợ giúp mình đạt được ý nguyện. Tuổi thọ đã cao, vua muốn cho công chúa thứ ba lấy chồng, định sẽ truyền ngôi cho vị phò mã.

Trái hẳn với hai chị là Diệu Thanh và Diệu Âm, công chúa Ba không đắm mình trong cung vàng điện ngọc mà say mê theo tiếng kệ câu kinh, rồi hiến thân cho đạo Phật. Nàng nhất quyết không chịu lấy chồng khiến vua và hoàng hậu nổi giận, bắt giam nàng ở riêng tại vườn sau hoàng cung.

 Một hôm vua cùng hoàng hậu ngự ra ngoài, công chúa Ba chạy đến đón xa giá thăm hỏi. Vua lại phán bảo nàng bỏ ý định tu hành để tính việc trăm năm song nàng vẫn một mực từ chối, và xin phép vua cha xuất gia đầu Phật. Vua giả vờ chiều theo ý con, cho nàng đến tu ở chùa Bạch Tước, đồng thời ra lệnh cho các nhà sư bị mua chuộc phải khuyên nhủ công chúa Ba trở về cung để lấy chồng. Nếu việc không thành thì chùa sẽ bị thiêu cháy và tất cả nhà sư cùng Ni Cô đều bị chém đầu.

 Các nhà sư sợ hãi tìm đủ mọi cách để làm cho công chúa xiêu lòng mà hồi tục, nhưng đều vô hiệu. Vua hay tin liền nổi cơn thịnh nộ ra lệnh đốt chùa để giết luôn công chúa không tuân lệnh vua cha, nhưng ngọn lửa vừa ùn ùn nổi lên bao vây cả bốn phía chùa thì trời đang tạnh ráo bỗng tuôn mưa xối xả dập tắt ngay. Vua bèn cho bắt công chúa Ba để xử tử, nhưng trời lại nổi bão táp dữ dội, sét đánh văng xa lưỡi đao của đao phủ nhắm bổ vào cổ công chúa. Vua vẫn không nguôi giận, lại ra lệnh xử giảo nàng. Quân lính đang sửa soạn dây để treo cổ nàng lên thì bỗng đâu một con cọp lớn phóng qua hàng rào binh sĩ bao vây cướp mất công chúa Ba, cõng nàng đưa đến chùa Hương Tích.

Chùa Hương Tích ở về xã Phù Lưu, thuộc tỉnh Hà Đông, dựng lên vào thời Chính Hòa nhà Lê (1687) do hai bà vợ chúa Trịnh, hai chị em Đào Thị Cư và Đào Thị Niên cùng nằm mộng thấy Phật Bà Quan Âm rồi xây cất lên. Đời Hồng Đức, vua Lê Thánh Tôn cho khắc ngay trên cửa vào Hương Tích là Nam Thiên Đệ Nhất Động. Giữa chốn lâm tuyền này, qua Bến Đục Đò Suối, rải rác các ngôi chùa Ngoài Thiên Chủ, chùa Giải Oan, chùa Cửa Võng, chùa Tiên, chùa Trong, cùng nhiều hang động thạch nhũ, hang Phật Tích, động Tuyết Quỳnh, đồi Không Lộ của Thần Trụ Trời, núi Gà, núi Tượng, núi Trống, núi Chiêng, núi Các Cô, núi Các Cậu cho các bà không con đến cầu tự, các cửa Võng, cửa Vương, cửa Chấn Song, lối xuống âm phủ, đường đi lên trời... Tương truyền trong động có một Lẫm Thóc vô tận trời sinh để nuôi các nhà sư tu hành ở Hương Tích, cùng Kho Tiền, Nhà Tầm Tiên, Chuồng Lợn Tiên, Phòng Sách Tiên, Quần Áo Tiên, ngày nay đã hóa thành đá.

Chùa Hương Tích thờ Phật Bà Quan Âm một ngàn tay một ngàn mắt (thiên thủ thiên nhãn), cọp cõng công chúa Ba đến đây ở tu hành. Các thú dữ trong rừng núi được cảm hóa đến nghe kinh, rồi chia nhau chim hái trái, nai lấy nước, cọp bổ củi, khỉ vo gạo, rồng thổi lửa nấu cơm... giúp đỡ trong công việc hàng ngày.

Trong khi ấy, ở triều, vua cha bị phát bệnh hủi (phong) ghê gớm. Các vị danh y được mời đến đều bó tay trước chứng bệnh nan y. Da thịt vua sần sùi lở lói, các ngón tay chân dần dần rơi rụng, mất cả hai bàn tay rồi mù cả hai mắt. Công chúa Ba tu đến thời kỳ gần đắc đạo, khoác lốt Ni Cô về thăm nhà, thấy vua cha bị bệnh thê thảm, liền tự moi lấy hai mắt trong sáng của mình, và chặt cả hai tay để tháp chữa cứu cho cha được lành mạnh trở lại. Sau đó, công chúa hóa về Niết Bàn, rồi sau lại độ cho vua, hoàng hậu cùng hai chị được thành Phật.

Tục truyền rằng công chúa Ba vốn là Phật Bà Quan Âm đầu thai xuống thế. Sự tích trên đây được giới tu hành truyền tụng thành kinh chữ Nôm cho thiện nam tín nữ nhắc nhở đến trong lúc trẩy hội chùa Hương vào tiết đầu xuân hàng năm, từ mồng mười tháng giêng đến cuối tháng ba.

 

 

Ý nghĩa trọng yếu nhất của hình tượng Quan Thế Âm

Trước khi tìm hiểu về hình tượng Phật bà nghìn tay nghìn mắt, cần phải hiểu ý nghĩa trọng yếu nhất của Quan Âm Bồ tát trong đạo Phật. Khi du nhập vào nước ta, hình tượng Quan Âm Bồ tát thường được thấy với tay trái cầm bình cam lồ, tay phải cầm cành dương liễu.

Kinh Phật có câu “Nam mô thanh tịnh bình thùy dương liễu Quan Âm như lai cam lồ sái tâm nguyện”. Ở đây, “Thanh tịnh bình” là bình thanh tịnh, “thùy dương liễu” là cành dương liễu rủ xuống, “Quan Âm Như Lai cam lồ sái tâm” là nước cam lồ của đức Quan Âm rưới lên tâm. Ý nghĩa nguyên câu ấy là bình thanh tịnh đựng nước cam lồ, nhờ cành dương liễu rưới khắp làm cho cái tâm của nhân gian được mát mẻ.

Trong bình thanh tịnh chứa nước cam lồ, nước cam lồ biểu trưng cho lòng từ bi. Nước này rưới tới đâu là chan rải tình thương tới đó, làm mát mẻ êm dịu mọi khổ đau của chúng sinh. Nhưng cần hiểu rằng nước cam lồ không phải bình nào cũng đựng được, chỉ có thể chứa trong “bình thanh tịnh”. Đây là ý nghĩa rất tế nhị của Phật giáo.

Bình thanh tịnh chính là sự giữ giới của người tu hành cũng như phật tử. Ví dụ một cách dễ hiểu, người làm việc sát sinh không thể có “bình thanh tịnh”, người làm những việc phạm pháp cũng không thể có “bình thanh tịnh”. Vì thế, đức Quan Âm Bồ tát rưới nước cam lồ khắp nhân gian, không chừa một ai, không quên một ai, nhưng chỉ những người có “bình thanh tịnh”, có lòng từ bi thì mới nhận được thứ nước ngọt lành của nhà Phật.

Còn một vật nữa là cành dương liễu. Đây chính là biểu tượng của sự nhẫn nhịn. Bởi việc tu hành cũng khó khăn như đi trong cơn bão lớn. Những cành cây cứng mạnh lại dễ gãy đổ. Cành dương liễu tuy yếu mềm nhưng dẻo dai, gió chiều nào cũng thuận theo nên khó gãy. Kinh Phật cho rằng muốn đem nước cam lồ ban rải cho chúng sinh được an vui mà thiếu đức nhẫn nhục thì khó thực hiện được.

 

Vì vậy Quan Âm Bồ tát dùng cành dương rưới nước cam lồ, biểu trưng cho lòng nhẫn nhục nhu nhuyễn. Thiếu cành dương không rưới nước cam lồ được. Cũng vậy, có lòng từ bi mà thiếu đức nhẫn nhục thì lòng từ bi đó không lâu dài, không đem đến lợi ích viên mãn cho chúng sinh. Cho nên đức nhẫn nhục, lòng từ bi luôn đi đôi với nhau, thiếu một đức thì đức kia không thể thực hiện.

Truyền thuyết về đức Quan Âm nghìn tay nghìn mắt

Phật giáo trong mỗi giai đoạn phát triển đều không thể tách rời với bối cảnh lịch sử. Vì thế, theo sự phát triển của lịch sử, hình tượng Quan Âm Bồ tát cũng có những biến đổi để phù hợp với thực tế. Đức Phật bà nghìn tay nghìn mắt xuất hiện xuất phát từ nhu cầu của phật tử mong được thấy một đức Quan Âm thần thông hơn, không chỉ nhẫn nhịn mà còn ra tay cứu vớt chúng sinh thoát khỏi trầm luân bể khổ.

Hình tượng Quan Âm nghìn tay nghìn mắt bắt nguồn từ sự tích Phật giáo của Ấn Độ về công chúa Diệu Thiện. Tương truyền từ xa xưa, có một vị vua mãi vẫn không có con để nối truyền ngôi vị. Sau nhiều ngày lễ bái cầu nguyện, thay vì sinh được con trai thì hoàng hậu lại hạ sinh 3 người con gái đẹp kiều diễm thướt tha.

Nhà vua đặc biệt yêu quý công chúa thứ 3 có tên là Diệu Thiện và có ý định nhường ngôi cho khi nàng lấy chồng. Tuy nhiên, công chúa không tuân theo tâm nguyện của vua cha mà quyết định xuất gia để tu hành.

Nhà vua khuyên răn bao nhiêu bà cũng cương quyết không chịu. Nhà vua bèn hạ lệnh cho các trụ trì trong chùa phải dùng đủ cách để đày đọa công chúa, những mong nàng nản chí mà quay về. Lệnh vua không ai dám cãi, công chúa phải làm đủ thứ việc nặng nhọc như gánh nước bửa củi... nhưng nàng vẫn vui vẻ chấp nhận không hề oán thán.

Quan thế âm Bồ Tát 

Không lay chuyển được con gái, nhà vua quá tức giận bèn ra lệnh đốt chùa, thà giết chết con chứ không cho phép con trái mệnh mình. Tương truyền trong khói lửa mịt mù, công chúa Diệu Thiện được một con hổ trắng cứu thoát, chạy tuốt sang tận Việt Nam, vào tu ở động Hương Tích (Ngày nay, chùa Hương vẫn có di tích thờ Bà chúa Ba, chính là Quan Âm Diệu Thiện).

Bấy giờ, nương theo thần thông của nhà Phật, công chúa phát thệ xuống 18 tầng địa ngục để cứu vớt vô số chúng sinh đang chìm đắm trong đau khổ. Trở về dương gian, bà tiếp tục tu luyện trong 9 năm và đã chứng đắc Phật pháp nhiệm màu. Lúc này, ở quê nhà, vua cha của bà bị bệnh nặng, các thầy thuốc đều bó tay. Công chúa Diệu Thiện lập tức trở về để cứu cha. Biết cha bị ngạ quỷ làm hại, bà khảng khái khoét mắt, xẻo thịt tay chân để hiến dâng, cứu cha thoát khỏi cái chết.

Phật tổ cảm động trước lòng thành của công chúa Ba đã độ trì cho bà thành Phật, lại ban cho bà nghìn tay nghìn mắt để cứu vớt thế gian. Trở thành Phật, đức Quan Âm Diệu Thiện trở lại giáo hóa cho cha mẹ và thần dân được tỉnh ngộ về vô lượng công đức Phật.

Tuy mang nhiều màu sắc thần thoại nhưng truyền thuyết về Quan Âm nghìn tay nghìn mắt vẫn mang đầy đủ những ý nghĩa của việc tu Phật. Là một vị công chúa được vua cha yêu quý muốn truyền ngôi, bà đáng ra sẽ được hưởng mọi lạc thú của thế gian. Nhưng tâm Phật đã cảm hóa, khiến bà muốn được tu hành, giữ giới.

Ở giai đoạn đầu, khi vua cha dùng đủ mọi thủ đoạn để đày đọa, bà vẫn an nhiên không hề sờn lòng tu tập. Tiếp đó, khi vua cha muốn hại chết con, Phật pháp đã ra tay cứu vớt để bà được sống. Thời điểm này, với sự nhẫn tâm của vua cha, tình cha con hay hiểu rộng hơn là mối liên hệ với cõi người của công chúa Ba đã hoàn toàn chấm dứt.

Tuy nhiên, bà vẫn phát thệ đi xuống 18 tầng địa ngục để cứu vớt chúng sinh. Cuối cùng, thử thách khó khăn nhất của quá trình tu hành chính là cơn bệnh nặng của vua cha. Với một người cha đã nhẫn tâm muốn hại chết mình, thời điểm này, bà hoàn toàn có thể lựa chọn cách bỏ mặc. Nhưng một lần nữa, tâm Phật lại chiến thắng. Từ phương xa, bà trở về, sẵn sàng khoét mặt, chặt tay chân để cứu sống người đã định hại chết mình. Được độ thành Phật bà lại có cả nghìn tay nghìn mắt cứu vớt chúng sinh, đó phải chăng là chính quả của con đường tu hành gian nan trong cõi người.

Hình tượng thuần Việt của đức Phật bà

Hình tượng Quan Âm nghìn tay nghìn mắt mang trên mình rất nhiều phép thuật. Ngoài hai bàn tay giữ ấn quyết nhà Phật, các tay còn lại của Phật bà đều cầm những pháp bảo để thuần hóa quỷ dữ hoặc cứu vớt chúng sinh. Có thể ví dụ như: cây gậy hành hương, mũi tên, mặt trăng, hoa sen, bình cam lồ, nhành dương liễu, mây ngũ sắc, kiếm, hoa sen trắng, sọ người, gương soi, chùm nho, cây kích, kinh văn, thủ ấn, đinh ba, tràng hạt, thiên cung, phất trần, thiền trượng, cung tên, hoa sen đỏ...

Trong tín ngưỡng dân gian, Phật bà nghìn tay nghìn mắt vừa hiền hòa vừa uy nghi, thiện nam thiện nữ gặp bà thì hoan hỉ; kẻ bất lương, quỷ sứ ma quái gặp bà thì sợ hãi.

Tìm hiểu về hình tượng Phật Bà nghìn mắt nghìn tay

Khi đi vào chùa – chốn linh thiêng của Đạo Phật. Thì chúng ta sẽ thấy rất nhiều tượng , thì trong bài trước chúng ta cùng Đá mỹ nghệ Phan Vinh cùng tìm hiểu về hình tượng Phật bà quan âm. Thì trong bài này chúng tôi sẽ cùng các bạn cùng tìm hiểu về hình tượng Phật bà nghìn mắt nghìn tay, mà hầu như tất cả trong chùa của Việt Nam ta đều thờ tụng .


Với các bức 
tượng Phật nào cũng thế. Các bức tượng có ý nghĩa hết sức quan trọng nên được bảo quản  và  bảo vệ rất kĩ nên các bức tượng đều được son son thiếp vàng nổi bật. Khi tìm hiểu về hình tượng Phật bà nghìn tay nghìn mắt, cần phải hiểu ý nghĩa trọng yếu nhất của Quan Âm Bồ tát trong đạo Phật. Khi du nhập vào nước ta, hình tượng Quan Âm Bồ tát thường được thấy với tay trái cầm bình cam lồ, tay phải cầm cành dương liễu. Vậy ta cũng đủ có thể thấy hình tượng Phật bà quan âm nghìn mắt nghìn tay đã được Việt hóa một phần.
 
Ở Việt Nam, hình tượng này có từ thời Lý, Trần và đạt tới đỉnh cao nghệ thuật vào thế kỷ 17 với tượng Phật Quan Âm ở chùa Bút Tháp. Theo kinh điển của phái Mật tông, trong quá khứ xa xôi, Quan Âm được nghe Thiên quan Vướng Tĩnh Chú Như Lai giảng về Đại Bi Tâm Đà la Ni, sau đó đã xuất hiện trên người nghìn mắt để thấy khắp |thế gian]] và nghìn tay để cứu vớt chúng sinh. Còn ở Việt Nam, câu truyện cổ tích "Bà chúa Ba" hay "Sự tích Phật Bà nghìn mắt nghìn tay chùa Hương Tích" đã giải thích cho lý do xuất hiện hình tượng Quan Âm này. Tượng Quan Âm nghìn mắt nghìn tay ở chùa Mễ Sở, Hưng Yên và ở chùa Bút Tháp, Bắc Ninh là hai tượng Quan Âm tiêu biểu về nghệ thuật và trí tưởng tượng phong phú của nghệ nhân.
 
Trong Kinh Phật thì Quan Thế Âm là vị bồ tát có nhiều phép thuật, hay cứu chúng sinh nên ngài có nghìn mắt, nghìn tay và được gọi là Quan Âm thiên thủ thiên nhãn (Quan Âm nghìn mắt nghìn tay). Hình tượng Quan Âm nghìn mắt nghìn tay đã có mặt tương đối sớm. Các tùy vật của Quan Âm thương thấy có ở các cánh tay này: cây gậy hành hương, mũi tên, Mặt Trăng, hoa sen xanh, bình nước, ngũ sắc tường vân, kiếm, hoa sen trắng, sọ người, gương soi, chùm nho, cây kích, kinh văn, thủ ấn, đinh ba, tràng hạt, phật, thiên cung, phất trần, thiền trượng, cung tên, hoa sen đỏ, vòng tay...
 
Tuong Phat bà có một đôi tay chắp trước ngực theo kiểu liên hoa hợp chưởng và một đôi tay đặt trên đùi theo kiểu thiền định. Ngoài hai đôi tay này trên thân tượng, ở lưng, sườn và vai tỏa ra 19 đôi tay ở các tư thế ban phép. Các cánh tay đều để trần, đeo vòng hạt minh châu.

Phía sau thân tượng có 789 cánh tay nhỏ sắp vòng tròn đồng tâm và đặt so le ở từng lớp tạo nên những vòng hào quang, trên đỉnh vòng tròn là con chim ca lăng tần già (chim thiên đường). Trong lòng mỗi bàn tay đều chạm một con mắt. Về phong cách đây cũng giống mỹ thuật Khmer với những cánh tay tỏa ra từ lưng, vai, sườn tượng song số lượng nhiều và chi tiết hơn. Cũng thấy ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc, đó là vòng hào quang hình tròn đã được biến cách thành thể tự do với hình ảnh đậu trên điểm cao nhất của tượng là một con chim thể hiện sự giao hòa tự nhiên.

Phật bà ngồi ở thế kiết già, chân xếp bằng thư thái trên tòa sen nổi bồng bềnh trên mặt biển. Đài sen là một bông hoa nở rạng rỡ, phần cao nhất là nhụy với những đường kẻ ngắn song hành, phía dưới là bốn tầng cánh hồng xen kẽ mãn khai.

Đỡ bông hoa là con quỷ Ô Ba Long Vương, một loại rồng đen ở biển Đông. Con quỷ chỉ ló đầu ra khỏi sóng, lấy đầu và hai tay đỡ lấy đài sen. Đỉnh đầu quỷ được vạt phẳng để đỡ yên hoa. Mặt quỷ mô phỏng mặt người song vẫn còn nhiều nét dữ tợn như mắt lồi, mày cau lại, mũi nhăn, cánh mũi to như mũi sư tử, má gồ, môi mỏng, tai đeo khuyên tròn, râu lù xù… Nó là đại diện của bóng tối, đã quy thuận Phật pháp, và hình ảnh nó đỡ tòa sen thể hiện đạo Phật đã giác ngộ cả loài quỷ dữ và thấm nhuần muôn nơi.


Trong bình thanh tịnh chứa nước cam lồ, nước cam lồ biểu trưng cho lòng từ bi. Nước này rưới tới đâu là chan rải tình thương tới đó, làm mát mẻ êm dịu mọi khổ đau của chúng sinh. Nhưng cần hiểu rằng nước cam lồ không phải bình nào cũng đựng được, chỉ có thể chứa trong “bình thanh tịnh”. Đây là ý nghĩa rất tế nhị của Phật giáo.
 
Bình thanh tịnh chính là sự giữ giới của người tu hành cũng như phật tử. Ví dụ một cách dễ hiểu, người làm việc sát sinh không thể có “bình thanh tịnh”, người làm những việc phạm pháp cũng không thể có “bình thanh tịnh”. Vì thế, đức Quan Âm Bồ tát rưới nước cam lồ khắp nhân gian, không chừa một ai, không quên một ai, nhưng chỉ những người có “bình thanh tịnh”, có lòng từ bi thì mới nhận được thứ nước ngọt lành của nhà Phật.
 
Còn một vật nữa là cành dương liễu. Đây chính là biểu tượng của sự nhẫn nhịn. Bởi việc tu hành cũng khó khăn như đi trong cơn bão lớn. Những cành cây cứng mạnh lại dễ gãy đổ. Cành dương liễu tuy yếu mềm nhưng dẻo dai, gió chiều nào cũng thuận theo nên khó gãy. Kinh Phật cho rằng muốn đem nước cam lồ ban rải cho chúng sinh được an vui mà thiếu đức nhẫn nhục thì khó thực hiện được.
 
Vì vậy các tượng Phật Quan Âm Bồ tát dùng cành dương rưới nước cam lồ, biểu trưng cho lòng nhẫn nhục nhu nhuyễn. Thiếu cành dương không rưới nước cam lồ được. Cũng vậy, có lòng từ bi mà thiếu đức nhẫn nhục thì lòng từ bi đó không lâu dài, không đem đến lợi ích viên mãn cho chúng sinh. Cho nên đức nhẫn nhục, lòng từ bi luôn đi đôi với nhau, thiếu một đức thì đức kia không thể thực hiện.

Trong quan niệm của đạo Phật, con số một nghìn biểu trưng cho sự viên mãn, nên hình tượng của Phật bà cũng có đủ nghìn tay nghìn mắt. Về tổng thể, trong các đền chùa, Phật bà thường được tạo tác với 40 tay lớn và 960 tay nhỏ, trong mỗi lòng bàn tay đều có một con mắt.

Kinh Phật giải thích rằng Quan Âm nghìn tay nghìn mắt chính là “lục căn diệu dụng”, còn có ý nghĩa là tri và hành hợp nhất.

Hiểu một cách đơn giản, Phật bà có bao nhiêu bàn tay là có bấy nhiêu con mắt; có biết là có làm, có làm là có biết. Nếu chỉ có một trăm tay nhưng có tới nghìn mắt thì chỉ là biểu hiện cho việc biết nhiều làm ít, không lợi ích gì cho chúng sinh

Ngược lại, nếu có nghìn tay nhưng chỉ trăm mắt thì làm nhiều, làm một cách nhiệt tình, nhưng do không biết đầy đủ nên đem lại tổn hại cho chúng sinh.

Giáo lý nhà Phật đã thể hiện một cách sinh động và đầy hiện thực con đường tu hành thông qua hình tượng Phật bà này. Nếu đi đúng con đường ấy thì khả năng làm lợi ích an lạc cho chúng sinh là rất lớn.

Trong một số tạo tác ở chùa chiền Việt Nam, một lần nữa lại thấy sự kết hợp chỉ có ở nước ta, mang tính chất thuần Việt. Đó là sự kết hợp của hai biểu tượng: Quan Âm nghìn tay nghìn mắt và Thập nhất Diện Quan Âm. Trong hình tượng này, có 3 tầng tạo tác. Quan Âm nghìn tay nghìn mắt ngự trên tòa sen, tay cầm ấn quyết và nhiều pháp bảo như bình thường.

Ở phần đầu của Phật bà, sẽ thấy hình ảnh của Thập nhất Diện Quan Âm. 11 khuôn mặt kể cả khuôn mặt chính (hướng về phía trước) đều có những biểu cảm khác nhau: trang nghiêm, dũng mãnh, uy hùng, đượm buồn, mừng vui...

Điều này thể hiện thần thông của Phật bà, tùy từng đối tượng là phật tử hay quỷ dữ, tùy chuyện buồn hay chuyện vui mà thị hiện với nhiều trạng thái khác nhau. Phía trên cùng của Phật bà còn có tượng A Di Đà, biểu thị sự tôn kính Phật tổ, dù thần thông quảng đại những vẫn hành động theo sự điều chỉnh của Phật pháp.

Tựu trung lại, toàn bộ tạo tác đức Quan Âm này làm nên 3 tầng, tượng trưng cho tổng thể pháp lực, có công năng diệu dụng phá tan ba chướng: nghiệp chướng, báo chướng, phiền não chướng. Kinh Phật quan niệm đây chính là đường lối chính để giải tỏa khổ ải cho kiếp nhân gian.

Như vậy, sự hợp nhất giữa hình tượng Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Âm và Thập Nhất Diện Quan Âm (trong công năng tiêu trừ ba chướng) đã thể hiện đầy đủ sức sáng tạo văn hóa tinh tế của người Việt trong tín ngưỡng.

Một bài học đầy tình người nhưng rất trí tuệ đã được đạo Phật dạy dỗ thông qua hình tượng của vị Phật bà này. Có nghìn tay để làm và cũng phải có nghìn mắt để “biết”. Đạo lý từ ngàn xưa đó trải qua bao thăng trầm, biến thiên của lịch sử nhưng vẫn còn nguyên giá trị đến ngày nay. Đó là con người cần phải “biết” và “làm” (có nghĩa là tri phải đi đôi với hành).

Trong bất cứ một lĩnh vực nào của đời sống, có “biết” thì mới làm tốt, không “biết” mà cứ cố làm sẽ chỉ khiến cho mọi việc trở nên phức tạp. Điều này thiết thực hơn “nói” và “làm” và càng lợi ích hơn nói thì hay nhưng lại không làm gì cả./.

Động Hương Tích

Chùa Hương thuộc xã Hương Sơn, huyện Mỹ Đức, cách trung tâm thành phố Hà Nội 60 km về phía Tây Nam. Miền đất Phật này thực sự là nơi có cảnh thiên nhiên đẹp, có nhiều chùa cổ, nhiều hang động kỳ thú...

Theo truyền thuyết, vùng núi có hang động này được tìm thấy cách đây hơn hai nghìn năm và đã được đặt tên Hương Sơn - lấy tên một ngọn núi ở phía Bắc Tuyết Sơn trong dãy Himalaya (Ấn Độ), nơi đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã ngồi tu khổ hạnh suốt 6 năm ròng rã

Đời vua Lê Thánh Tông (1460 -1497) có ba nhà sư chống tích trượng tới đây tu hành, hàng ngày vào động Hương Tích lễ tụng – tọa thiền, tối lại ra khu vực Thiên Trù ngủ nghỉ. Hồi đó, Thiên Trù là một thung lũng hoang vu, các ngài lần lượt dựng lên một thảo am để trú ngụ tránh mưa nắng, sau một thời gian ba vị viên tịch thì nơi đây gián đoạn trụ trì. Tên tuổi các ngài cũng không ai nhớ rõ. Di tích của các ngài để lại đến nay chỉ còn lại là 2 ngôi mộ cổ bằng đá xanh, được đục đẽo thô sơ trong vườn tháp Thiên Trù. Không ai biết ngày ba vị mất, chỉ gọi chung là ngày "Kị Tổ Bồ tát", các ngài thuộc tông phái nào cho đến nay vẫn chưa ai biết rõ.

Trên dòng suối Yến

Theo sách "Hương Sơn Thiên Trù thiên phú" thì năm 1687 đời vua Lê Hy Tông (1680 – 1705) niên hiệu Chính Hòa, sư Trần Ðạo Viên Quang thuộc dòng Thiền Lâm Tế, ở Ty Tăng lục(1) đã tới đây tái lập cảnh Phật ở Hương Sơn, trụ trì khoảng 20 năm,(2) tiếp theo là các vị Đại sư Thông Lâm, Hoà thượng Thích Thanh Quyết một vị danh tăng học thức uyên bác, phẩm hạnh thanh cao, được các nho sĩ đương thời suy tôn là "Tăng trung hào kiệt".

Tiếp theo là các Hòa thượng Thích Thanh Tích (1881-1964), Thích Thanh Chân (1905-1989) nhất là Hòa thượng Thích Viên Thành (1950-2002) đã có công lao to lớn trong việc kiến tạo quần thể di tích chùa Hương tựa chốn bồng lai tiên cảnh ngay trần thế, bao gồm nhiều đền, chùa, hang động như: chùa Thiên Trù, chùa Giải Oan, chùa Bảo Đài, đền Trấn Song (Cửa Võng), động Tiên Sơn, động Hương Tích, động Tuyết Sơn...

Hương Sơn còn gắn liền với sự tích Bà Chúa Ba tức Quan Âm Nam Hải - hình ảnh của một ý chí kim cương, một tình thương rộng lớn, bao trùm cả gia đình và nhân loại và cả những linh hồn đang chịu khổ đau ở cõi âm nữa.

Tương truyền, Bồ tát Quan Thế Âm Nam Hải vốn là Diệu Thiện, công chúa thứ ba (Bà Chúa Ba) con vua Diệu Trang ở nước Hưng Lâm bên Ấn Độ. Khi đến tuổi trưởng thành, vua cha muốn con chọn lựa một vị quan có tài đức trong triều làm chồng, để ông truyền ngôi báu sau này, nhưng công chúa từ chối vì chỉ thích xuất gia học đạo. Trang Vương cả giận làm công chúa kinh sợ, nàng xin cha chọn cho mình một người thuộc dòng dõi lương y. Vua nghe càng nổi giận lôi đình, ra lệnh bắt công chúa đày đọa sau vườn, không cho ở trong cung cấm nữa. Nàng vượt qua mọi ngăn trở của vua cha, cương quyết vượt biển đến động Hương Tích Đại Việt tu hành.

Để giúp công chúa Diệu Thiện sang tu hành ở Đại Việt, đức Phật Như Lai, nói thần Thái Bạch sai thần núi Hương Tích hoá thành hổ sang nước Hưng Lâm cõng công chúa về chùa Giải Oan Hương Tích Sơn. Ở đây, nước giếng Thanh Trì trong vắt đã giúp Bà tẩy sạch bụi trần, trút bỏ hết nỗi oan khiên.

Bà được đức Phật Tổ chỉ vào động Hương Tích tu hành, chín năm sau thành chính quả. Bà hoá thành Phật Bà Quan Âm nghìn mắt nghìn tay thần thông quảng đại.

Bà thành Phật và sum họp với người thân của mình. Trong động chùa Tiên Sơn thờ năm pho tượng đá trắng như ngọc thạch ghi lại sự tích này. Đó là năm người trong gia đình Phật Bà Quan Âm.

Sự tích Bà Chúa Ba có nhiều điểm khá gần gũi với tích truyện về Mẫu đệ tam Thoải (Thuỷ) phủ ở đền Mẫu Thoải (đền Cửa Sông) làng Bắc Biên, quận Long Biên, Hà Nội hay đền Bà Áo Trắng, thôn Cổ Việt, xã Hợp Minh, thành phố Yên Bái và nhiều nơi khác. Phải chăng Quan Âm Nam Hải và Thánh Mẫu chỉ là một. Hay đúng hơn, tín ngưỡng dân gian Việt đã đồng nhất hai vị thần khác đạo này lại để nhằm đáp ứng nhu cầu của tâm linh.

Người ta kinh ngạc bởi sức hấp dẫn của Hương Sơn linh thiêng:

Một vùng non nước bao la

Rằng đây Lạc quốc hay là Đào nguyên

Hương Sơn là chốn non tiên

Bồng lai mà thấy ở miền trần gian.

Bởi thế, cứ mỗi độ xuân về, hoa mơ nở trắng rừng Hương Sơn, hàng ngàn, hàng vạn Phật tử cùng khách thập phương lại nô nức về đây trẩy hội.

Theo sử sách, lễ hội chùa Hương bắt đầu từ thời Lê -Trịnh, khi các công chúa phi tần đi trẩy hội đã đóng góp công đức xây dựng chùa. Từ đó cùng với sự mở rộng và phát triển của miền đất Phật này, lễ hội chùa Hương ngày một đông vui, hấp dẫn và qui mô lớn hơn.

Lễ hội bắt đầu từ mùng 6 tháng 1 đến tháng 3 âm lịch, đỉnh cao của lễ hội là từ rằm tháng giêng đến 18 tháng hai âm lịch (19/2 âm lịch là ngày vía đức Quan Âm Nam Hải).

Nguồn intenet

 

Tiện ích Bambu
Tin liên quan
Bạn cần tìm kiếm?
Advert Advert2 Advert3
TextLink
BAO LA VẠN SỰ

Mobile: 0913 290 384  /  Email: tranngockiem57@gmail.com hoặc tuvan@phuclaithanh.com

Copyright © 2014   BaoLaVanSu. Thiết kế và phát triển bởi Bambu®