tư vấn bao la vạn sự

Chết 6 người do đập Miếu cổ

Chết 6 người do đập Miếu cổ

Cập nhật : 30/09/2018
Đến hôm bà Nguyễn Thị Đào, mẹ chồng chị mất mạng, mọi người mới giật mình nhận ra rằng, thần thánh đã “bắt” cả người ngoài dòng họ, vì bà Đào chỉ là dâu, mang họ khác.
 

Chuyện không thể giải mã về ngôi nhà có 6 người chết thương tâm ở Thái Bình

Thứ Năm, 16/08/2018 06:35 AM GMT+7

(VTC News) - Có cả trăm công an, cảnh sát vào cuộc điều tra, nhưng vẫn chưa tìm ra nguyên nhân cái chết của 6 người trong gia đình ông Trần Văn Rạng.

·          

·         Lời đồn ‘ma ám’ khiến ngôi nhà bị bỏ hoang ở Bắc Giang

·         Đại gia đình chết thảm trong ngôi nhà ‘ma ám’ bí ẩn

Kỳ 1: Người đàn ông thách thức tử thần trong ngôi nhà chết chóc

Nhắc đến ngôi nhà “ma ám”, hay “thánh vật”, người ta lại nghĩ ngay đến ngôi nhà hoang ở xã Vũ Tây (Kiến Xương, Thái Bình), với 6 mạng người trong nhà cùng chết bất đắc kỳ tử không rõ nguyên nhân, khiến cả tỉnh náo loạn thời kỳ đó.

Người còn sống sót, là anh Trần Quốc Việt, con trai chủ nhà, dù mạnh mẽ nhất, nhưng cũng sợ hãi bỏ chạy khỏi ngôi nhà đó, sống ẩn dật ở TP. Thái Bình, mà không ai biết anh ở đâu. Người con dâu dẫn cháu nội trốn hẳn vào Tây Nguyên bao năm không về nữa, cắt đứt mọi liên lạc, những mong không bị thứ “siêu linh” đuổi theo hành.

Thế nhưng, mới đây, anh Việt đã quay về ngôi nhà hoang của mình, đối mặt với “tử thần”, chấp nhận số phận.

Con đường từ triền đê sông Trà Lý đến xóm 9 xã Vũ Tây xuyên qua cánh đồng lúa mênh mông giờ đã đổ bê tông, nhưng cái ngõ, ao, mảnh vườn trước nhà ông Trần Văn Rạng thì mười mấy năm qua vẫn vậy, cỏ mọc um tùm, ngõ chẳng dấu chân, nhà cửa đổ nát.

 

Ao, vườn và lối vào nhà ông Trần Văn Rạng um tùm cỏ mọc. 

Tuy nhiên, bước chân vào sân, nhìn vào ngôi nhà chính, có cảm giác “bừng sáng”, ấm áp hơn, bởi có sinh khí của người ở. Bao năm qua, những cánh cửa đóng im ỉm, xộc xệch, nhện giăng, rợn người.

Tôi gọi váng một hồi, thì thấy người đàn ông dáng đi khật khừ, khuôn mặt không lộ vẻ biểu cảm, bàn tay ‘búp măng’ với những móng tay dài đuột, cầm con dao đi ra từ phía sau nhà. Anh xưng là Trần Quốc Việt, con của ông Trần Văn Rạng mà nhắc đến tên cả xứ này cũng biết, và ai cũng dựng tóc gáy hãi hùng.

Dường như đã quá quen thuộc với việc tiếp khách lạ, nên anh Việt chẳng nói chẳng rằng, đi vào trong nhà cất dao, rót cốc nước lọc, để trước mặt khách.

Quan sát trong nhà, chẳng thấy có gì giá trị, ngoài chiếc tivi cổ lỗ sĩ để trên chiếc ghế gỗ ở góc nhà. Bộ bàn ghế tiếp cách cũng thuộc hàng “đồ cổ”, thanh ngang cái mất cái còn, ngồi phải nghếch một một bên kẻo mông lọt xuống.

“Chắc cậu lại là nhà tâm linh hở? Gớm, từ hôm về nhà đến nay có đến mấy chục đoàn tâm linh đến bắt ma trừ tà. Có ông tên Long ở Hà Nội nửa đêm kéo cả đoàn người toàn đệ tử gái xuống, phóng chưởng phi tiêu gớm lắm, chả khác gì con khỉ. Phóng chưởng giết ma xong, mấy đứa con gái nhảy chồm chồm ôm nhau hò reo đã diệt quỷ. Gớm, có mà diệt vào mắt. Nhìn ngứa mắt chỉ muốn đuổi cổ hết, nhưng rồi kệ thôi, vì họ làm việc của họ, chả ảnh hưởng gì đến mình. Tốn mấy chai rượu sếch thôi” – anh Việt nhấp ngụm nước rồi thủng thẳng kể.

Tôi hỏi: “Giọng anh nói có vẻ thiếu hơi trầm trọng. Chắc là phổi có vấn đề”. Ông Việt bảo: “Vấn đề gì nữa chứ, sắp toi cái mạng giẻ rách này rồi. Hôm nọ đi chụp, bác sĩ bảo phổi trắng hết rồi. Tôi cũng mặc kệ, chết sớm đi cho xong chuyện. Bị lao phổi mấy năm rồi. Bác sĩ bảo chỉ sống được 3 tháng, thế mà sống đến 10 cái 3 tháng rồi vẫn không chịu chết cho. Đời đúng là khốn nạn. Người lành, người khỏe, trẻ con, thì ‘nó’ bắt đi, còn cái thằng bệnh hoạn này thì nó cứ để cho sống để trêu ngươi, để hành…”.

Thấy anh Việt nói khá lạ, tôi hỏi lại, thì anh bảo “nó” tức là cái thế lực đen tối ở khu đất này đang hành hạ anh. Đang ngồi nói chuyện, thì anh dừng lại, nhìn ra ngoài sân, rồi tôi quan sát thấy hai cánh tay anh nổi gai ốc, người rùng một cái. Tôi thắc mắc, thì anh bảo, vừa thấy “nó” lướt ở ngoài sân. Nó cứ xuất hiện, thì anh lại lạnh người nổi gai ốc.

Tôi hỏi han một hồi, thì hóa ra anh mắc thêm bệnh về đường tiêu hóa, cứ miệng nôn trôn tháo cả ngày. Bệnh đó trong đông y gọi là thấp nhiệt, nên nóng trong mà lạnh ngoài. Tinh thần người đàn ông này có vẻ không được bình thường, nên khi nhắc đến chuyện ma hành quỷ ám, tâm lý ảo tưởng xuất hiện, cộng với căn bệnh trong người, nên tạo cảm giác nổi gai ốc cũng là chuyện bình thường. Khi anh Việt nói thế, bản thân tác giả thực sự chẳng cảm nhận thấy gì cả.

Theo lời anh Việt, thì mảnh đất nhà anh vẫn vậy, vẫn rùng rợn và quái đản dị thường như xưa. Đêm anh vẫn gặp những con rắn to tướng, bằng bắp chân, dài ngoằng treo trên cây trứng gà, với cây xà cừ. Ban ngày mưa xuống nắng lên, anh vẫn gặp vài con bò loe ngoe ở sân. Ấy thế nhưng, có một điều lạ, là chẳng ai nhìn thấy được rắn ở trong vườn ngoài anh.

Có con rắn khiến anh chú ý nhất, là có da màu vàng, y như lon nước bò húc, mình dài bằng đón gánh, nhưng cái đuôi lại cụt. Thi thoảng nó xuất hiện quanh chỗ cái miếu ở khu vườn bên trái ngôi nhà anh đang ở.

“Hôm đầu tôi về, có thằng cháu 20 tuổi xung phong ngủ cùng. Đêm nào cũng nghe tiếng lộc cộc ngoài sân, nên nó ở được đôi ba hôm rồi chuồn mất. Tôi mặc kệ, chỉ mong ‘nó’ bắt luôn mình đi cho sớm về với tổ tiên ông bà, thế mà mãi nó không chịu bắt.

Ngoài tôi ra, thì không ai có thể ở ngôi nhà này. Đến đám thầy bà kéo về, cũng chỉ làm lễ, rồi nhanh chân chuồn thẳng, chứ có mời cũng không dám ở. Tôi làm bảo vệ ở một nhà máy, nên chơi với bọn nghiện cũng nhiều. Kể chuyện nhà mình, mà chúng nó còn sợ. Có thằng đói thuốc hỏi vay tiền, tôi bảo tao sẽ cho mày 5 tép, thuê xe ôm cho mày, nếu mày dám ngủ ở nhà tao một đêm. Có thằng ngủ nghỉ hút chích nghĩa địa suốt, thế mà khi xe ôm chở đến đầu ngõ, nó bỏ chạy thẳng cẳng.

Hồi đấy, tôi đi đến đâu, cũng có mấy ông công an đi kèm, nhưng họ chỉ lặng lẽ ngồi quan sát từ khoảng cách vài mét. Cả ngày lẫn đêm họ đi theo tôi. Chắc họ nghĩ có người ám sát để bịt đầu mối. Nhưng đúng là chuyện hài, vì nhà tôi toàn nông dân, còn tôi làm bảo vệ, có làm ăn gì hay gây hại cho ai đâu mà có kẻ muốn giết sạch cả nhà để bịt đầu mối. Họ làm công việc của họ, nên tôi kệ thôi” – anh Việt kể.

Ngồi trò chuyện một hồi, thì điều tôi nhận thấy ở người đàn ông này, là tâm lý bất cần đời, xen lẫn không bình thường. Có lẽ, những ám ảnh kinh hoàng, những cái chết khủng khiếp của những người thân, đã lấy đi sự minh mẫn của người vốn là trụ cột của gia đình. Việc anh sống độc thân, không vợ, không con, thui thủi một mình, mắc lắm bệnh tật, cũng đánh quỵ người đàn ông này.

Bỏ lại người đàn ông với những câu chuyện vẩn vơ trong căn nhà trống hoác, tôi đi vòng ra phía trái.

Trời đất âm u, càng tạo cảm giác ám ảnh, rờn rợn. Lối đi bên nhà lát gạch, rêu mốc, trơn trượt. Ruồi nhặng, muỗi bay vo ve. Ngôi nhà chính chưa đổ mái hoang tàn cỏ mọc. Ngôi nhà ngang sập mái, với cây bạch đàn đổ ngang đè lên.

Giữa mảnh sân nhỏ, dưới tán cây trứng gà, mà theo lời anh Việt, quả to bằng cái bát con, ngôi miếu nhỏ lạnh lẽo khói hương, lâu lắm không ai chăm sóc.

Phía trong vườn, ngay bờ ao um tùm cỏ mọc, bèo nổi, dưới gốc sung già, là ngôi miếu rêu mốc đen sì, cũng lâu ngày không có ai chăm sóc, hương khói, dọn cỏ.

Những hình ảnh đó, với câu chuyện rợn người quanh cái miếu, có thể khiến bất kỳ ai khi đặt chân đến nơi này, đều lạnh người, dựng tóc gáy, mà bỏ chạy.

Những cái chết kỳ lạ, không tìm ra nguyên nhân ở ngôi nhà này, thực sự quá kỳ lạ và ám ảnh. Ngày đó, có cả trăm nhà khoa học tìm về nghiên cứu, gửi mẫu đất nước, thực phẩm sang cả nước ngoài để nghiên cứu. Một đồng chí khi đó là phó chủ tịch UBND tỉnh Thái Bình phải đứng ra chỉ đạo giải quyết vụ việc chấn động dư luận. Có cả trăm công an, cảnh sát vào cuộc điều tra, nhưng vẫn chưa tìm ra nguyên nhân cái chết của 6 người trong gia đình ông Trần Văn Rạng.

Báo Điện tử VTC News sẽ đăng tải lại câu chuyện kỳ lạ và bí ẩn nhất này, thông qua hồi ức của anh Trần Quốc Việt – người còn sống duy nhất trong ngôi nhà của ông Trần Văn Rạng, và hiện đang đối đầu với những ngày thập tử nhất sinh, để mong có sự giải mã thấu đáo.

Kỳ 2: Ngôi miếu thiêng

Dáng đi lật khật, anh Trần Quốc Việt (xóm 9, Vũ Tây, Kiến Xương, Thái Bình) dẫn tôi ra phía sau nhà.

Phía trái ngôi nhà chính như một thế giới khác, không có dấu chân người, ẩm ướt, âm u và rậm rạp.

Núp sau những tán cây bạch đàn đổ nghiêng ngả, những cây xoài um tùm, là một ngôi nhà mái bằng xây dở và một ngôi nhà cấp 4 sụp mái, tạo nên vẻ hoang tàn đổ nát.

Giữa sân gạch rêu mốc, trơn trượt, là cây hương nhỏ, lạnh lẽo khói hương, lâu lắm không ai chăm sóc. Cách bức tường gạch, cạnh bờ ao, trong vườn, là ngôi miếu nhỏ nữa cũng lạnh lẽo rêu mốc.

Bố đẻ anh Việt là ông Trần Văn Rạng và mẹ đẻ là bà Nguyễn Thị Đào. Ông bà đẻ tới 8 người con, gồm 4 trai, 4 gái. Ông bà làm nông nghiệp, nên con cái cũng chỉ có được miếng ăn mà lớn, chứ chẳng được học hành gì nhiều. Cả đời ông bà gắng sức quần quật nuôi con, rồi lần lượt dựng vợ gả chồng cho 8 người con. Một người con trai bỏ xứ vào Nam lập nghiệp, anh Việt làm bảo vệ cho một công ty nhà nước ở thành phố Thái Bình. Người anh cả và và thứ 3 ở tại mảnh đất này với ông Rạng bà Đào. Mấy người con gái cũng đi lấy chồng cả. Cô lấy chồng trong mãi Tây Nguyên, cô lấy chồng ở xã khác, xóm khác.

Dù con cái chỉ làm nông nghiệp, gắn bó với cây lúa, củ khoai, song do chắt chiu tích cóp, nên những người con của ông bà cũng dần ổn định cuộc sống, xây dựng, sửa sang được nhà cửa.

 

Ngôi nhà do vợ chồng anh Trần Văn Viết xây dựng, giờ bỏ hoang. 

Người con cả Trần Văn Viết được ông bà Rạng chia cho mảnh đất trước ngôi nhà ngói ông bà ở. Vợ chồng anh Viết đã dựng một ngôi nhà dù là cấp 4, song rộng rãi khang trang, tường bao quây kín. Sau này, khi anh Viết qua đời, cả nhà gặp họa, thì ngôi nhà bỏ hoang. Nhà cửa thiếu hơi người, ẩm mốc, mối mọt, mấy trận bão giật thổi bay mái, đổ sập, chỉ còn là dấu tích với đống đổ nát ngổn ngang.

Cậu con trai thứ 3, tên là Trần Văn Út, sau khi lấy vợ vài năm, sinh con đẻ cái, tích cóp được ít tiền, đã xin bố mẹ cho ra ở riêng. Đất đai rộng rãi, nên ông bà Rạng đã cắt một mảnh rộng chừng 200 mét vuông, phía sau về bên trái ngôi nhà của ông bà cho cậu con tưởng là út ít, ai dè chỉ là thứ 3.

Có đất rồi, anh Trần Văn Út dựng tạm một ngôi nhà cấp 4 nho nhỏ, chỉ cỡ 30 mét vuông ở tạm. Ngôi nhà ngay bên bờ ao, phía trước nhà là cái miếu nho nhỏ, giống như cây hương trước nhà. Lịch sử ngôi miếu nhỏ này cũng rất sáng rõ, đó chỉ là ngôi miếu của gia đình, do thế hệ trước dựng nên.

Để hiểu rõ về ngôi miếu này, phải nắm được ngôi miếu ở phía bên kia cái ao nhà ông Rạng. Đó là ngôi miếu do các cụ nhà ông Rạng, cùng một số người dân trong làng dựng nên, gọi là miếu Thần Linh.

Ngôi miếu Thần Linh vốn thờ 3 mẹ con người ăn mày. Hồi năm 1945, tình trạng chết đói diễn ra khắp vùng quê lúa. Năm đó, có 3 mẹ con ăn mày lang thang đến ngôi làng này xin ăn. Dân làng cũng đói nên họ chẳng xin được gì. Bụng đói cồn cào, nên cậu con của bà ăn mày trèo lên cây sung lớn ngả ra bờ ao để hái sung ăn. Tuy nhiên, chưa hái được quả sung nào, thì cậu bé trượt chân, ngã xuống ao. Người anh thấy vậy liền nhảy xuống ao cứu em. Tuy nhiên, ao sâu nước cả, hai anh em dần dần chìm nghỉm xuống nước. Người mẹ dù đói lả, không nhấc nổi chân, nhưng thấy 2 con chìm dưới dòng nước, liền gắng sức nhảy xuống. Rốt cục, cả 3 mẹ con đã chết đuối dưới ao.

Người dân trong xóm thương xót, đã vớt 3 mẹ con lên, bó chiếu chôn cất cẩn thận ngay bờ ao. Năm đói trôi qua, người dân trong làng may mắn ít người phải chết đói. Nghĩ rằng, do 3 mẹ con ăn mày phù hộ, dân làng mới không chết đói, nên đã dựng một ngôi miếu nhỏ để thờ. Gia đình ông Rạng vừa giữ vai trò chủ trì, vừa đóng góp chính xây dựng ngôi miếu.

Sau này, ngôi miếu trở thành nơi tụ họp tâm linh của các hộ dân trong xóm. Ngày rằm, ngày lễ, người dân đều hương khói chu đáo tại ngôi miếu nhỏ này. Từ ngôi miếu thờ 3 mẹ con ăn mày, có lúc gọi là thờ ma đói, đã biến thành miếu thờ thần.

Gần 3 năm sau khi xây dựng ngôi miếu này, vào năm 1948, một bà trong họ Trần đau ốm liên miên mà không rõ nguyên nhân. Bà này là thầy cúng, chuyên cúng bái, xem long mạch cho người dân trong vùng. Bà bảo, do long mạch ở đất nhà mình có vấn đề, nên phải lập một ngôi miếu, rước Thần ở miếu thờ 3 mẹ con chết đói về thờ.

Ngôi miếu được xây dựng khá nhỏ, đơn sơ ở rìa bờ ao, đối diện với ngôi miếu thờ 3 mẹ con chết đói. Bà còn kêu thần linh, thổ địa lên ngự ở miếu để bà hương khói ngày đêm. Hàng ngày, bà này cúng bái, hương khói cẩn trọng. Tuy nhiên, hương khói mãi mà chẳng ăn thua gì, bệnh tình bà mỗi ngày nặng thêm. Cuối cùng, bà chết một cách bí ẩn, khi đang khấn vái ở miếu.

Cái chết của bà khiến gia đình và người thân càng tin vào sự linh thiêng của ngôi miếu nhỏ này. Từ đó đến nay, các thế hệ họ Trần coi ngôi miếu là chỗ dựa tâm linh, hương khói ấm cúng trong những ngày trọng đại. Người dân trong xóm cũng đến khấn vái, dâng lễ xin lộc.

Điều kỳ lạ, là thi thoảng có một con rắn, không rõ là rắn gì, dài khoảng 3m, to bằng chiếc điếu cày, thường xuyên ngự trong miếu. Có lúc gặp nó nằm khoanh tròn chỗ bát hương, có lúc thấy nó nằm vắt trên miếu, có lúc lại thấy nó ở trên ngọn cây. Ai cũng nghĩ rằng thần linh đã hóa thân thành con rắn, nên không ai dám xua đuổi, hoặc bắt nó làm thịt.

“Chuyện xuất hiện rắn ở cái miếu với mảnh đất nhà tôi thì là cơm bữa, tôi gặp suốt ngày. Dân làng ai cũng bảo nhìn thấy, nhưng toàn là nghe kể lại thôi, chứ thực ra, tôi mới là người nhìn thấy con rắn hàng ngày. Con rắn đó to bằng bắp tay, da vàng như lon bò húc, đuôi lại cộc nhìn rất kỳ quái. Nó cũng không sợ người. Cứ mỗi năm nó lột da một lần ở bờ ao” – anh Trần Quốc Việt kể.

Sẽ chẳng ầm ĩ, nếu ngôi miếu ấy nằm rìa mảnh đất rộng rãi của ông bà Rạng, nhưng lại nằm giữa mảnh đất mà anh Trần Văn Út được bố mẹ chia cho. Ngôi miếu nằm giữa mảnh đất thì không thể xây dựng kiểu gì cho phù hợp, hài hòa. Tuy nhiên, ngôi miếu là nơi thờ cúng, chỗ dựa tâm linh của gia đình, xóm giềng, nên anh Út không đụng đến.

Anh Viết dựng ngôi nhà nhỏ ngay trước ngôi miếu, quay mặt thẳng ra ngôi miếu. Vị trí ngôi miếu tuy không phù hợp, nhưng nó không ảnh hưởng đến cuộc sống, lối đi lại, nên anh Út cứ để nguyên.

Chỉ đến một ngày, khi sinh 2 đứa con, khi ngôi nhà 30 mét vuông đã chật chội, khi vợ chồng đã tiết kiệm đủ tiền để xây dựng ngôi nhà mái bằng khang trang hơn, thì ngôi miếu mới trở nên đáng quan tâm. Mảnh đất nhỏ, nên không thể có sự lựa chọn nào khác, anh Út buộc phải đào móng dựng ngôi nhà ngay cạnh ngôi miếu và biến ngôi nhà nhỏ đang ở thành nhà bếp.

Được sự đồng ý của gia đình, xóm làng, anh Út quyết định di dời ngôi miếu ra vị trí khác, ở chái ngôi nhà đang ở, sát bụi tre, cạnh bờ ao. Nói là di dời, nhưng thực ra là phá ngôi miếu cũ, xây dựng ngôi miếu mới và dời sự thờ cúng ra đó.

Hôm phá miếu, gia đình cũng thuê thầy cúng làm lễ cẩn thận, nhưng không hiểu cơ sự gì, hay sự trùng hợp kỳ lạ nào đó mà sự việc xảy ra sau đó lại nghiêm trọng khủng khiếp như vậy. Súc vật liên tiếp lăn ra chết, tiếp đó là những cái chết kinh dị không ngăn nổi xảy đến với 6 thành viên trong gia đình hiền lành chân chất này.

Cái chết khủng khiếp diễn ra liên tục và bí ẩn với đại gia đình ông Trần Văn Rạng, ở xóm 9, xã Vũ Tây, Kiến Xương, Thái Bình. Đầu tiên là cái chết của anh Trần Văn Viết (con trai ông Rạng). Tiếp theo là cái chết của ông Trần Văn Rạng, rồi bà Nguyễn Thị Đào (vợ ông Rạng), anh Trần Văn Út (con trai ông Rạng), cháu Trần Quốc Khánh (cháu nội ông Rạng, con anh Út), bà Phạm Thị Tâm (mẹ ông Rạng). Tất cả những cái chết này đều bí ẩn, không tìm ra nguyên nhân, khiến bức màn tâm linh vẫn bao trùm xóm nhỏ và con cháu ông Rạng, cũng như dòng họ Trần suốt bao năm qua.

Kỳ 3: Những cái chết kỳ lạ của vật nuôi, và cái chết đầu tiên trong gia đình

Anh Trần Văn Việt, người trở về ngôi nhà chết chóc (xóm 9, Vũ Tây, Kiến Xương, Thái Bình) để đối diện với cái chết, dẫn tôi ra phía chái nhà chính và anh tin rằng, mọi nguyên do bắt đầu từ khu vực đó. Khung cảnh đổ nát hoang tàn, cây cối rậm rịt, đổ nghiêng ngả, tạo cảm giác rờn rợn cho bất cứ ai bước chân vào.

Chỉ tay vào ngôi nhà xây dở, anh Việt khó nhọc phều phào kể: “Khi ngôi nhà mái bằng khang trang cậu Út chuẩn bị cất nóc, thì bi kịch xảy ra với anh Viết. Thời điểm đó, không chỉ người thân của tôi mất mạng, mà vật nuôi trong nhà cũng chết hàng loạt”.

Vật nuôi lăn đùng chết sạch sẽ

Theo hồi ức của anh Trần Văn Việt, trước khi xảy ra cái chết của anh Trần Văn Viết, là cái chết hàng loạt của vật nuôi của nhà anh Trần Văn Út.

“Loài vật đầu tiên trong nhà chết liên tục là lợn của cậu Út. Khi đó, gia đình chúng tôi nói chung và nhà cậu Út nói riêng nuôi rất nhiều lợn, nhưng chúng cứ lăn ra chết một cách vô cùng kỳ lạ. Lúc đầu thì nghĩ lợn gà chết có thể do dịch, nhưng sau này lắp ghép các câu chuyện lại thì đúng là rùng rợn.

Đàn lợn nhà cậu Út có mấy chục con, nặng cỡ 20-30kg thôi. Nhưng đúng sau hôm phá miếu, thì liên tục lăn ra chết. Khi đó dân tình chẳng ai sợ dịch, nên lợn lăn ra chết thì mài dao mổ luôn, vừa có miếng ăn, thừa thì đem ra chợ bán.

 Điều khủng khiếp nhất, là tôi và mọi người cạo lông chưa xong một con lợn, thì cả mấy chục con còn lại trong chuồng nhà cậu ấy đều tự dưng kêu éc éc, rồi lăn đùng ra co giật, sùi bọt mép, chết thẳng cẳng. Mọi người đều hết sức ngạc nhiên, bởi chưa bao giờ thấy lợn chết nhanh như vậy. Chúng đang khỏe mạnh bình thường, tự dưng kêu eng éc, chạy nhảy húc đầu lung lung, rồi lăn đùng ngã ngửa chết thẳng cẳng, chết sùi bọt mép”.

Theo lời anh Việt, đến khoảng 6 giờ chiều, khi công việc mổ bụng, moi lòng đàn lợn chết đột tử còn đang ngổn ngang, thì đàn gà mấy chục con nhốt trong chuồng bỗng kêu quang quác, loạn xị ngậu. Mọi người vứt dao, thớt chạy đến xem sao.

Ai cũng nghĩ chắc có con chuột cống, hoặc con rắn tấn công, đàn gà mới kêu la kinh hãi như vậy. Nhưng trong chuồng không có con vật gì cả. Chỉ có đàn gà vừa chạy vừa bay, đâm đầu vào tường, vào lưới. Chúng náo loạn tìm cách thoát thân khỏi chuồng, như có ai đuổi bắt, song không tìm được lối thoát. Ngay trước mắt mọi người, đàn gà mấy chục con quang quác một lúc, rồi cắm đầu, cào chân bành bạch, chết cứng đờ.

Con vịt đẻ trứng kỳ quái

Cái chết của đàn gà bắt đầu khiến mọi người hoảng. Mấy ông hàng xóm sang đụng lợn bỏ chạy khỏi nhà ông Rạng. Mấy đứa cháu nhỏ cũng được di tản đi nơi khác, kẻo lây bệnh từ đàn gà, lợn.

Đang lúc bàn cãi, không biết xử lý đàn gà, đàn lợn của anh Út chết bất đắc kỳ tử thế nào, thì 6 con vịt đẻ đi kiếm ăn ở ngoài đồng bơi qua ao, rồi đủng đỉnh đi vào vườn tìm chỗ ngủ. Đàn vịt vừa lạch bạch đi vào vườn, thì kêu lên quạc quạc. Cả 6 con vịt đẻ kêu la chỉ mấy chục giây, rồi lăn ra đất giãy đành đạch như bị cắt tiết. Chúng giãy một lúc, thì chết hẳn.

Vậy là, chỉ trong vòng hơn tiếng đồng hồ, toàn bộ lợn, gà, vịt nhà anh Út lăn ra chết hết. Không đủ sức mổ vịt, nên anh Trần Văn Út bịt mồm bịt mũi nhặt 6 con vịt vừa chết ném xuống ao. Thế nhưng, điều kỳ lạ là một lát sau, mọi người thấy một con vịt lạch bạch từ ao đi vào vườn. Thấy sự lạ, mọi người chạy ra ao tìm kiếm. Tuy nhiên, 5 con vịt vẫn chết nổi lềnh bềnh, chỉ có một con sống dậy. Kiểm tra đàn gà, thì con nào cũng cứng đơ, không có khả năng sống lại nữa.

Nhắc lại chuyện con vịt đã chết tự dưng sống lại này, mọi người đều sởn da gà. Đó là một câu chuyện hết sức quái dị. Sau khi sống lại, con vịt không cần sự chăm sóc của mọi người nữa, nó tự ra đồng kiếm ăn, rồi tự làm ổ trú ngụ, chứ không ở trong chuồng. Nó cần mẫn đi tha lá chuối khô, làm cái ổ to tướng ở bụi chuối sát bờ ao.

Điều kỳ lạ nữa là con vịt đẻ nhiều trứng khủng khiếp. Con vịt này làm ổ, đẻ trứng và cứ sống như vậy. Nó chứng kiến lần lượt từng cái chết của đại gia đình ông Rạng, rồi mới biến mất một cách bí ẩn.

Việc con vịt sống lại, rồi tự làm ổ, đẻ trứng quá nhiều, khiến mọi người trong gia đình ông Rạng sợ hãi. Không ai dám lấy trứng về ăn. Mọi người đều tin rằng, con vịt này là “ma quỷ” nhập vào, nên nó mới sống lại được và mới biết tha rác làm ổ, đẻ trứng nhiều như thế. Đàn vịt đẻ này vốn được chăm bẵm cẩn thận, được cho ăn, cho uống, có chuồng ấm áp để ở, nhưng tự dưng con vịt này lại biến thành vịt hoang dã, tự lo được cho mình. Đặc tính của nó hoàn toàn khác so với vịt nuôi, nên mọi người mới có sự liên tưởng như vậy.

Chuyện về con vịt kỳ lạ khiến cả xã Vũ Tây quan tâm. Một đồn mười, mười đồn trăm, rồi người ta tin con vịt đó linh thiêng. Tuy nhiên, cũng có người trong xóm không tin chuyện đó. Người ấy là ông H. Ông này bảo: “Thần linh cái đếch gì. Vịt nào mà chẳng biết đẻ. Mà nó đẻ thì phải có ổ. Cứ thần thánh hóa lên, đúng là nhố nhăng, mê tín”.

Ông H. quát tháo như vậy, rồi xông đến ổ con vịt để nhặt trứng về ăn. Tuy nhiên, vừa đến gần, thấy con vịt ngồi trên đống trứng mấy trăm quả, phải nhiều cỡ một thúng đầy, ông này bỗng bủn rủn tay chân. Ông bỏ về ngay, không dám lấy quả trứng nào cả. Trước khi về, ông còn bảo: “Đúng là vịt thần, chứ vịt thường làm sao đẻ lắm trứng thế!”.

Hồi gia đình ông Rạng đang điêu đứng vì liên tiếp có người qua đời, thì anh hàng xóm bắt con vịt này về. Anh ta có đàn vịt đẻ ngót ngàn con. Đàn vịt này ăn khỏe, chăm tốt, nhưng không hiểu sao đẻ ít trứng. Mỗi ngày, đàn vịt ngàn con chỉ được vài trăm quả. Nghĩ rằng con vịt này đẻ khỏe, bắt nó về chắc sẽ được lộc, nên anh đã thực hiện ngay ý định.

Anh ta bắt bắt con vịt này về, thả vào đàn vịt của mình, rồi thắp hương trên bàn thờ, cầu thần linh phù hộ, cho đàn vịt đẻ sòn sòn. Thế nhưng, điều kinh hãi xảy ra, ấy là ngay đêm hôm đó, đàn vịt ngàn con nhà anh kêu quàng quạc, làm náo loạn cả xóm nhỏ. Anh này bật điện, rồi cầm đèn ra soi, nhưng tuyệt nhiên không thấy rắn, chuột đâu cả. Đàn vịt hoảng loạn như thể có cầy cáo đến săn mồi.

Điều kinh dị hơn nữa, là sớm hôm sau, đàn vịt ngàn con, mỗi đêm cho vài trăm trứng, nhưng lại không đẻ được quả nào. Nghĩ rằng đã mạo phạm thần linh, nên anh này bắt con vịt đó thả về vườn nhà ông Rạng. Sau này, khi đại gia đình ông Rạng, người chết, người bỏ đi, không ai dám đến khu vực này nữa, thì cũng không ai để ý đến con vịt nữa. Giờ nó ở đâu, còn sống hay đã chết, thì không ai biết. Nhưng con vịt kỳ lạ, thì được người dân trong xóm thêu dệt rất khủng khiếp.

Sau một ngày chết chóc như ngả rạ của lợn, gà, vịt của nhà anh Trần Văn Út, thì sau đó, lợn, gà, vịt nhà ông Rạng cũng đều lăn ra chết cả. Đại gia đình này không nuôi được con gì nữa. Lợn nuôi 10 con, chết cả 10, nuôi 2 con chết cả 2, nuôi một con cũng chết luôn.

Điều lạ hơn nữa, là bọn lợn cứ nuôi được chừng 1 tháng, nặng cỡ 20-30kg thì mới đột nhiên lăn ra chết. Gà, vịt thì cứ đến khi chuẩn bị làm thịt được thì mới chết. Sau đại gia đình gặp tang gia nhiều quá, thì chẳng ai còn tâm trí đâu nuôi con gì nữa. Chỉ có mỗi con vịt vẫn đẻ trứng đều đều, nhưng không ai dám lấy trứng để ăn.

Cái chết đầu tiên

Sau cái chết của đàn vật nuôi xảy ra ở nhà anh Út, thì đại gia đình ông Trần Văn Rạng đón nhận nỗi đau buồn đầu tiên, đó là cái chết của anh Trần Văn Viết, anh trai của anh Út.

Anh Viết sinh ra đã là chàng trai khỏe mạnh, vâm váp. Đến tuổi trưởng thành, thì lấy thôn nữ ở xã bên, cách Vũ Tây chưa đầy 10 cây số làm vợ. Vợ chồng được ông bà Rạng chia cho mấy sào ruộng, tích cực cày cuốc, trồng cấy mới đủ ăn.

Để có thêm đồng ra đồng vào, anh Viết chịu khó đi làm thuê làm mướn. Do cuộc sống không dư giả, nên anh chị chỉ mới đẻ được 1 cháu trai, dự tính xây nhà xong, tích cóp được một chút, mới tiếp tục đẻ đứa nữa.

Có chút vốn liếng, vợ chồng anh Viết xin ông bà Rạng cho ra ở riêng. Ông bà Rạng cắt cho một mảnh đất chừng 200m, ngay trước mặt, chếch về phía tay phải nhà bố mẹ, cạnh bờ ao. Vợ chồng anh Viết đã xây một ngôi nhà. Dù là nhà cấp 4, lợp ngói, song khá rộng rãi, khang trang, có sân vườn đầy đủ. Ngôi nhà quay cùng hướng Đông với nhà ông bà Rạng, và quay lưng về phía nhà bố mẹ, nhưng vẫn đi chung một ngõ.

Anh Viết xây nhà xong một thời gian, thì cậu em Trần Văn Út đã phá ngôi miếu để xây nhà riêng cho vợ chồng mình. Vậy là, trên mảnh đất rìa xóm 9, có 3 ngôi nhà của 3 bố con ông Rạng quây quần bên nhau. Hồi xảy ra sự việc, cậu con duy nhất của vợ chồng anh Viết mới tròn 5 tuổi.

Ngay khi anh Trần Văn Út khởi công xây nhà, thì anh Viết, anh trai của Út tự dưng hay ốm đau, khật khừ, tính tình trở nên khó hiểu. Lúc anh kêu đau chỗ này, lúc kêu đau chỗ kia, nhưng đi khám thì chẳng ra bệnh gì. Anh này cũng không ăn uống gì lạ, chỉ ăn con cua, con cá bắt được ở cánh đồng, dưới ao. Do hay kêu đau, đi khám lại không ra bệnh, nên có người đặt câu hỏi rằng, hay là anh này bị thần kinh?

Trước hôm chuẩn bị đổ mái nhà em trai, anh Viết tự dưng rú lên sợ hãi, rồi lăn đùng ra đất co giật, mắt cứ trợn lòng trắng, như thể sắp lòi ra ngoài. Thấy tính mạng anh Viết có thể gặp nguy hiểm, nên cậu Út nổ xe máy, mọi người lấy vỏ chăn quấn chặt anh Viết, rồi một thanh niên ngồi sau xe máy ôm, cấp cứu ở Bệnh viện đa khoa tỉnh Thái Bình.

Các bác sĩ đã nhanh chóng cho anh nhập phòng cấp cứu, cho thở ôxi. Được tiêm thuốc trợ sức, thở bình ô xi, nên anh Viết dần tỉnh táo lại. Suốt mấy ngày ở bệnh viện, các bác sĩ đã cho chiếu chụp tim, phổi, não, xét nghiệm máu, nhưng tuyệt nhiên không tìm ra bệnh gì. Trong máu anh Viết cũng không có dư lượng chất độc nào cả. Nằm viện vài hôm, khỏe lại như thường, anh được xuất viện.

Khi đó, các loài vật ở nhà anh Út, anh Viết và của bố mẹ đã lăn ra chết rải rác sạch sẽ, chỉ còn mỗi con vịt đẻ kỳ quái là sống khỏe, nên gia đình đã sợ hãi, nghĩ đến chuyện thần linh trách phạt. Mọi người cũng liên hệ chuyện thần linh quở phạt với sự đau yếu, đặt biệt là cảnh tượng lăn đùng ra đất co giật, đến mức suýt chết mà không tìm ra bệnh của anh Viết, khiến không khí trong gia đình càng trở nên ngột ngạt.

Từ bệnh viện về nhà buổi chiều, thì đến đêm anh Viết có vẻ đuối sức, cứ đi lại khật khừ. Sáng hôm sau, mọi người tập trung đông đúc, còn anh Viết ngồi trên giường, mặt mũi cứ tái nhợt. Anh Viết chẳng nói chẳng rằng, cứ nhìn mọi người với ánh mắt buồn bã. Bà Đào, mẹ đẻ anh Viết thì cứ liên tục đốt nhang, khấn vái ở bàn thờ. Tầm 8 giờ sáng, anh Viết đòi nằm xuống giường. Anh nằm ngửa, cứ lịm đi, rồi chết sau một cơn co giật cứng người.

Chị vợ anh Viết là người phụ nữ dũng cảm, mạnh mẽ. Trong khi mọi người đổ chuyện chồng mình chết do thánh thần quở phạt, do phá miếu nơi con rắn thần cư ngụ, thì chị không tin. Chị còn đứng giữa sân xa xả tuyên bố không sợ thần thánh, ma quỷ gì cả.

Sau này, lần lượt từng thành viên trong gia đình nhà chồng lăn ra chết, chị vẫn là người cáng đáng chính mọi việc, lo ma chay chu toàn cho cả nhà chồng.

Tuy nhiên, sự việc xảy ra với gia đình mình quá kinh hãi, liên tiếp những cái chết không tìm được nguyên nhân, khiến chị cũng phải chờn lòng. Chị đâm ra lo lắng cho sinh mệnh cậu con trai duy nhất của mình.

Và, sự việc xảy ra đúng như lời đồn đại. Cậu con trai duy nhất của vợ chồng anh Viết liên tiếp lăn ra ngất, sau khi xảy ra cái chết của bố, cùng chú, ông nội. Đã mấy lần gia đình phải cấp tốc đưa cháu đi cấp cứu ở bệnh viện. Cũng như bố, bệnh viện không tìm ra nguyên nhân khiến cháu bé này liên tục bị choáng, ngất, co giật sùi bọt ở miệng.

Sợ hãi quá, chị đã phải gửi con về quê ngoại, cách quê nội chừng 10 cây số. Điều đặc biệt là cháu ở nhà ngoại thì không sao, nhưng cứ có việc về quê nội, thì lại lăn ra bất tỉnh nhân sự. Hôm tổ chức trăm ngày cho ông nội, cháu bé đã lăn ra ngất cùng với nhiều người trong gia đình. Đó là hoàn cảnh thập tử nhất sinh. Cũng may, gia đình đưa đi bệnh viện kịp thời, nên mạng cháu còn giữ được.

Dù là người gan dạ, nhưng sợ hãi lời đồn thánh thần bắt những người trong họ Trần, nên nghe lời mọi người, chị đã cho cháu làm con nuôi một gia đình khác, để cháu mang họ khác, là người của gia đình khác, không có cớ nào để thần thánh bắt đi nữa. Tuy nhiên, dù cháu đã là con của dòng họ khác, nhưng khi về nhà, làm tang lễ cho người thân, cháu bé vẫn lăn ra ngất.

Đến hôm bà Nguyễn Thị Đào, mẹ chồng chị mất mạng, mọi người mới giật mình nhận ra rằng, thần thánh đã “bắt” cả người ngoài dòng họ, vì bà Đào chỉ là dâu, mang họ khác.

Đúng hôm bà Đào mất, ngay trong đêm, mọi người đã đưa 2 mẹ con trốn khỏi ngôi làng nhỏ ở xã Vũ Tây. Đích thân mấy người trong họ Trần, cùng những người bên ngoại đã góp tiền, rồi đưa hai mẹ con lên tận bến xe thành phố, để vào tuột trong Nam, tránh xa vùng đất với những lời đồn khủng khiếp. Hai mẹ con sống trong Nam từ đó đến nay, không dám về lại quê chồng ở xã Vũ Tây nữa.

Kỳ 4: Trăm ngày cha và đại tang liên tiếp

Dựng lại miếu thiêng

Sự việc anh Trần Văn Viết chết kỳ lạ, rồi vật nuôi chết chóc sạch sẽ, khiến đại gia đình ông Trần Văn Rạng (Vũ Tây, Kiến Xương, Thái Bình) hoang mang tột độ. Lời đồn do phá miếu thiêng, nơi con rắn trú ngụ khiến không chỉ đại gia đình này, mà cả khu dân cư sợ hãi. Tuy nhiên, chỉ đến khi xảy ra cái chết của ông Trần Văn Rạng, thì nỗi sợ hãi mới dâng cao khủng khiếp.

Anh Trần Văn Việt kéo tôi đến nơi chiếc tủ cũ kỹ, rồi chỉ vào tấm ảnh thờ, chụp chân dung anh Trần Văn Út. Nhìn vào tấm ảnh, tôi không khỏi sững sờ, vì tấm ảnh đã bị biến dạng.

Quan sát kỹ, thì rõ ràng là tấm ảnh bị ẩm mốc, đã khiến khuôn mặt anh Út trong ảnh bị biến dạng. Tuy nhiên, theo lời anh Việt, thì khuôn mặt anh Út đã biến thành… rắn hổ chúa. Anh Việt cũng khẳng định đó là hình dạng của con rắn xuất hiện ở ngôi miếu khiến đại gia đình anh loạn lạc.

Theo lời kể của anh Trần Văn Việt, ngay khi anh cả tên Viết qua đời, mọi việc xây dựng nhà cửa đình lại. Ông bà Rạng cùng con cháu chạy ngược xuôi tìm thầy, cúng bái ghê gớm, với mong muốn được tai qua nạn khỏi. Nhiều thầy cúng đã đến tận nơi làm lễ, trấn yểm, và đại gia đình đã lấy lại niềm tin, đỡ sợ hãi hơn.

Giải quyết xong chuyện tang ma cho anh Viết, thì gia đình bàn tính chuyện tiếp tục cất nóc nhà anh Út. Tuy nhiên, việc này chưa kịp thực hiện, thì ông Rạng có biểu hiện lạ.

Ông Rạng từng đi bộ đội, ra sống vào chết, tuy nhiên, ông may mắn là không bị thương tích gì, cũng không bị nhiễm chất độc hóa học. Về quê, ông làm nông dân, dù tuổi cao, nhưng sức vóc vẫn như thanh niên. Ông Rạng vốn không tin chuyện thánh thần, ma quỷ, tuy nhiên, những sự kiện kỳ lạ diễn ra liên tiếp với gia đình, khiến ông không khỏi hoang mang, nên cũng tin vào chuyện cầu cúng, lễ bái.

Thật khó có thể tin nổi, rơi vào hoàn cảnh đó, ông Rạng lại có biểu hiện lạ, tâm tính thay đổi, thi thoảng lại rơi vào trạng thái vật vờ, ngờ nghệch. Sức khỏe ông cứ yếu dần. Gia đình hết sức lo lắng, liên tục đưa ông đi bệnh viện mỗi khi ông kêu mệt, hay tay chân run lẩy bẩy. Các bác sĩ làm đủ các loại xét nghiệm, chiếu chụp, đều chẳng tìm ra căn nguyên bệnh tật từ cơ thể ông Rạng.

Ông Rạng vốn thi thoảng cũng uống rượu, nhưng mỗi bữa chỉ 1-2 chén. Tuy nhiên, thời điểm đó, ông uống rượu nhiều hơn. Dường như ông uống để muốn quên đi nỗi sợ hãi, lo lắng, hoặc để khỏi phải suy nghĩ về những hiện tượng kỳ cục đang diễn ra với gia đình mình. Cái gì đến cũng đã đến, đúng 1 tháng sau ngày con trai Trần Văn Viết mất, ông Trần Văn Rạng đã đột ngột qua đời, sau một cơn co giật cứng người giống hệt anh Trần Văn Viết.

Cái chết của ông Rạng khiến đại gia đình hoang mang cực độ. Con cháu ở khắp trong Nam, ngoài Bắc đã tụ họp về nhà. Lễ tang ông Rạng diễn ra long trọng, tiếng khóc lóc thảm thương của con cái khiến xóm làng rơi lệ.

Tang gia bối rối xong, đại gia đình họ Trần họp lại và tiến cử ông Trần Văn Lưu, là chú ruột ông Rạng, trưởng chi họ Trần trong gia đình, đứng ra lo liệu mặt tâm linh. Sau khi gặp gỡ nhiều thầy bà, ông Lưu đã mời được thầy Dược ở xã Vũ Đông (TP. Thái Bình).

Ông Dược không chỉ là thầy cúng nổi tiếng trong tỉnh, mà còn nổi tiếng với tài xem phong thủy, địa lý, trấn yểm long mạch. Sau khi làm lễ lớn tại điện ở nhà mình, ông Dược xuống tận nhà ông Rạng. Ông thầy này bỏ mấy ngày liền đi khắp khu vực, tìm hiểu từng gốc cây, bụi cỏ, đền, miếu, ao, mương. Ông kết luận rằng, ngôi miếu mà các cụ nhà ông Rạng dựng nên trong phần đất nhà mình, thực ra là để trấn yểm long mạch. Việc phá ngôi miếu đã vô tình làm hỏng long mạch, nên theo ông ta, chuyện chết chóc tất yếu xảy ra.

Ông thầy này cũng lớn tiếng khẳng định rằng, may mắn gia đình gặp được thầy cao tay, nếu không thì sẽ chết hàng loạt. Sau lễ cúng linh đình, xin thần linh thổ địa bỏ qua sự mạo phạm của người trần mắt thịt, có mắt như mù, ông đã xem xét kỹ lưỡng và cắm phần đất sát bờ ao, cạnh bụi tre, ngay chái căn nhà ngang của vợ chồng anh Trần Văn Út từng ở, và yêu cầu gia đình lập tức dựng ngôi miếu nhỏ tại điểm ông chọn.

Ông thầy này bảo rằng: “Gia đình đã mời các thần đến ngự, để trấn yểm long mạch, nên phá miếu đuổi thần đi, khác nào mở cửa rước quỷ vào nhà”. Ông thầy này yêu cầu dừng việc xây nhà, lập tức khởi công xây miếu. Khi nào xây xong miếu, mời các vị thần đến ngự, rồi muốn làm gì thì làm.

Khi đó, lời của ông thầy Dược kia là sấm truyền, đại gia đình họ Trần này đâu dám trái lời. Chỉ vài ngày xây dựng, ngôi miếu nhỏ, chỉ cỡ 2 mét vuông đã được hoàn thành. Tại ngôi miếu ấy, ngày đêm vợ con ông Rạng hương khói nghi ngút. Chẳng biết việc khói hương có giúp những người trong gia đình này giữ được tâm hồn thanh tịnh hay không, nhưng những câu chuyện thần bí, và khói hương mờ ảo dường như càng làm cho lời đồn thánh thần nổi giận vật người ở ngôi làng thoi loi giữa cánh đồng này càng thêm khủng khiếp, rợn gáy.

Cúng trăm ngày – ngày oan nghiệt

100 ngày mất của ông Trần Văn Rạng rồi cũng đến. Thời gian thấm thoắt thoi đưa. Mới thế mà ngôi mộ ông Rạng cỏ đã xanh rì. Trước hôm trăm ngày, bà Nguyễn Thị Đào, vợ ông Rạng, thường gọi theo tên chồng là bà Rạng, cùng con cháu ra đồng dẫy cỏ mọc lút gối. Nhìn cảnh cỏ mọc trùm kín, lấp mất tấm bia nhỏ, chỉ có nhõn tên tuổi và ngày tạ thế của chồng, bà Đào rưng rưng nước mắt.

Ông Rạng là trụ cột gia đình, là chỗ dựa của bà và con cháu mấy chục năm nay, ấy vậy mà… Bà thắp nén nhang, cầu mong ông ở nơi chín suối được ngậm cười, ông sống khôn chết thiêng phù hộ cho con cháu, chứ đừng gọi con cháu đi. Bà mời ngày mai ông về nhà, dự bữa cơm với con cháu, rồi linh hồn thanh thản về với cõi khác.

Lễ cúng cơm trăm ngày ông Rạng diễn ra ấm cúng. Con cháu khắp nơi kéo về đông đủ. Bàn thờ ông Rạng bài trí đơn sơ, với bát nhang, di ảnh, lọ hoa, chén nước, đĩa muối, bát cơm, quả trứng, ngọn nến leo lét cháy. Mâm cơm được bày trước bàn thờ. Con cái thắp nén nhang thơm. Ông Lưu thay mặt gia đình cúng bái, mời linh hồn ông Rạng cùng tổ tiên về thụ hưởng..

Phong tục cúng trăm ngày ở khắp đất Thái Bình đều như vậy. Người ta tin rằng 100 ngày sau khi chết linh hồn người chết vẫn còn quyến luyến người thân, hồn vía còn nặng, chưa thể siêu thoát được. Sau khi cúng trăm ngày, người chết sẽ đoàn tụ với tiên tổ, người sống cũng không nên quyến luyến nhiều nữa.

Thời điểm đó, cậu bé Trần Quốc Khánh mới 6 tuổi, con trai của anh Trần Văn Út và chị Vũ Thị Nhung từ nhà tắm đi ra, khăn tang quấn đầu, tíu tít theo mẹ đòi được cúng ông nội. Thằng bé Khánh sống với ông từ nhỏ, được ông nội bồng bế, chăm bẵm từ khi lọt lòng, nên quấn ông hơn cả bố mẹ. Mới 6 tuổi, nhưng Khánh khôn lớn, phổng phao, da trắng như bột, đôi mắt to, đen láy toát lên vẻ thông minh láu lỉnh.

Từ ngày ông mất, bé Khánh rất buồn, thi thoảng nhìn di ảnh ông nội, Khánh lại khóc đòi ông. Hôm trước, khi bà Đào và mấy người ra mộ ông Rạng dọn cỏ, Khánh cũng đi theo. Sớm hôm nay, mọi người thắp hương ở mộ, Khánh cũng thắp hương cho ông, đòi ông về bế Khánh. Do nghĩa địa xâm xấp nước, lầy lội bùn đất dính lên quần áo, nên được mẹ tắm táp cho sạch sẽ. Vừa tắm xong, Khánh đã đòi ngồi cúng ông nội cùng với mọi người. Bé Trần Quốc Khánh vừa ngồi xuống, chắp tay lại ông, chưa nói câu gì, bé bỗng ngã lăn ra chiếu.

Anh Trần Văn Việt nhớ lại: “Khi mọi người đang cúng, thì thằng Khánh bỗng ngã lăn ra chiếu, lên cơn co giật, sùi bọt ở mép, mắt cứ trợn lên. Cháu nó giống như bị ngạt thở, hoặc lên cơn đau tim đột ngột. Cháu không nói được gì. Chỉ vài phút sau, khi mọi người còn đang hoảng loạn, chưa biết tính toán thế nào, thì cháu đã tắt thở. Lúc đó, hàng chục người trong gia đình, rồi hàng xóm cũng lăn ra ngất xỉu hết. Tôi cũng lăn ra không biết gì nữa”.

Điều kỳ lạ, là cả chục người lăn ra ngất, nhưng lát sau thì tỉnh lại hết, riêng bà Đào, anh Út và vợ là chị Nhung là bị nặng nhất. Cả 3 mẹ con bà Đào đều bị những cơn co giật rúm người, mặt mũi méo xệch, mắt mũi trợn ngược, nhìn rất hãi hùng. Anh Út đang ngồi trên ghế mà cơn co giật mạnh đến nỗi đổ ghế bật ngửa ra sau bất tỉnh.

Ngoi nha chet choc bi an o Thai Binh: Dai tang trong le cung tram ngay hinh anh 5

 Bàn thờ ngập di ảnh.

Đại gia đình đã xúm vào đưa bà Đào, anh Út, chị Nhung đi cấp cứu tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thái Bình. Tuy nhiên, bà Đào đã chết trên đường đến bệnh viện. Anh Út và chị Nhung thập tử nhất sinh trong bệnh viện, phải thở ôxi.

Tang lễ bà Nguyễn Thị Đào và cháu nội Trần Quốc Khánh diễn ra trong không khí sầu thảm. Người dân trong xóm xót thương, rơi lệ, nhưng chẳng ai dám đến tiễn đưa. Người ta chỉ dám đứng từ xa nhìn đám con cháu họ Trần đẩy xe tang, khóc thương ai oán.

Khi mộ bà Đào đã đắp xong, mọi người làm lễ cúng cơm 3 ngày, thì chị Vũ Thị Nhung được xuất viện. Mọi người đưa chị về nhà, để chị thắp nén nhang, quỳ gối trước di ảnh mẹ chồng, và khóc ngất trước di ảnh cậu con trai duy nhất. Không để chị Nhung ở lại lâu, gia đình đã đưa ngay về nhà cha mẹ đẻ ở xã Vũ Đông, để tránh thảm họa được đồn đại là “thánh vật” đang diễn ra thảm khốc tại nhà chồng.

Những ngày ở nhà bố mẹ đẻ, dù vô cùng đau buồn vì cái chết của mẹ chồng, của cậu con trai duy nhất, rồi người chồng đang đấu tranh giành sự sống với tử thần ở bệnh viện, nhưng chị Nhung không ngất lần nào. Thế nhưng, hễ cứ về nhà chồng, lập tức chị run lẩy bẩy, có dấu hiệu xảy ra hiện tượng bị co giật. Hãi quá, không ai cho chị về nhà nữa.

Ngoi nha chet choc bi an o Thai Binh: Dai tang trong le cung tram ngay hinh anh 6

Di ảnh anh Trần Văn Út và cậu con trai Trần Quốc Khánh 

Ngoi nha chet choc bi an o Thai Binh: Dai tang trong le cung tram ngay hinh anh 7

Di ảnh anh Trần Văn Út bị ố nhòe, khiến nhiều người liên tưởng đến hình ảnh con rắn. 

Sau hơn nửa tháng điều trị tích cực ở Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thái Bình, rồi một số bệnh viện ở Hà Nội, anh Trần Văn Út đã được ra viện. Mọi người khuyên can nên về nhà vợ ở xã Vũ Đông ở tạm, chờ thời gian nữa hãy về nhà mình, nhưng anh Út không nghe. Anh bảo rằng, nếu thánh thần nhất quyết bắt anh, thì dù ở nhà vợ, hay ra nước ngoài, thánh thần cũng sẽ bắt được. Anh muốn về nhà, hương khói cho bố mẹ, anh trai và cậu con trai duy nhất.

Chị Nhung thấy chồng nhất quyết về, nên cũng can đảm theo chồng về nhà. Và mất mát tiếp tục diễn ra đối với gia đình ông Rạng, đó là sự ra đi đột ngột sau cơn co giật cứng người của anh Trần Văn Út.

Bữa đó, vợ chồng anh Út đang ngồi ăn cơm trên ghế, thì anh Út làm rơi bát, co rúm người, ngã vật xuống đất và tắt thở, không kịp trăng trối câu gì. Chị Nhung nhìn chồng ngã vật ra đất, bỗng cứng đờ người, không há nổi miệng kêu cứu. Cấm khẩu độ mấy phút, thì chị cũng bất tỉnh luôn. Mấy người thân trong gia đình đưa chị Nhung đi bệnh viện kịp thời, nên cứu sống được chị. Anh Út chết quá nhanh, không thể cứu nổi nữa.

Ông Bùi Văn Nghĩa, Phó Chủ tịch xã Vũ Tây: “Sự việc chết chóc xảy ra tại gia đình ông Trần Văn Rạng đến nay vẫn là bí ẩn, chưa ai giải thích được. Tôi là người theo dõi bi kịch gia đình ông Rạng từ đầu đến đuôi và quả thực thấy mọi người đều sợ hãi. Nhưng chuyện ấy đã trôi qua mấy năm rồi, giờ đã khép lại. Chỉ tiếc là rất nhiều nhà khoa học đã về nghiên cứu, nhưng chưa có câu trả lời thỏa đáng. Còn việc đồn đại thánh vật thì tôi hoàn toàn không tin. Gia đình ông Rạng có phá cây hương thật, nhưng đó chỉ là cây hương nhỏ, ở trên đất nhà ông Rạng, nên ông ấy có quyền tự quyết. Việc phá cây hương là chuyện bình thường thôi, chứ có gì sai phạm về mặt tâm linh đâu. Hơn nữa, gia đình ông ấy cũng chỉ di chuyển cây hương ra chỗ khác, chứ có phải phá bỏ hẳn đâu.

Kỳ 5: Thầy cúng bỏ chạy

Sau cái chết bất đắc kỳ tử của bà Nguyễn Thị Đào và cháu nội Trần Quốc Khánh, cùng hàng loạt người bất tỉnh nhân sự tại lễ cúng trăm ngày ông Trần Văn Rạng, thì đại gia đình và nhân dân xóm 9 (Vũ Tây, Kiến Xương, Thái Bình) hoang mang tột độ. Không khí và khung cảnh ngôi làng thoi loi giữa cánh đồng khi đó quả thực vô cùng nghiêm trọng. Hàng trăm nhà tâm linh vào cuộc cũng không ngăn được thảm họa kinh hoàng.

Khoa học bó tay

Sự việc kỳ lạ này không còn giới hạn trong xóm 9, mà đã lan ra khắp tỉnh. Đích thân bà Hà Thị Lãm, khi đó đương chức Phó Chủ tịch UBND tỉnh Thái Bình, đã nhiều lần về tận nơi, chỉ đạo sát sao các lực lượng chức năng cùng vào cuộc, đảm bảo an ninh trật tự, tuyên truyền để bà con an tâm sinh sống. Lực lượng công an cũng vào cuộc điều tra, truy tìm nguyên nhân những cái chết xảy đến với gia đình ông Trần Văn Rạng.

Anh Trần Văn Việt nhớ lại: “Hồi đó, tôi chỉ là thằng bảo vệ quèn ở một nhà máy, mà công an chìm nổi bám theo suốt. Có hôm, đi ăn sáng, đã thấy mấy ông ngồi phía xa, lúc thì trong vai xe ôm, lúc ngồi quán nước, lúc lượn lờ ngay cạnh, có lúc hở cả súng ở cạp quần. Đến nỗi, đêm hôm mò đi ăn bát cháo, mà cũng có mấy người đi theo. Tôi biết thừa họ theo sát ngày đêm để tìm xem có ai ám hại những người trong gia đình tôi không, nhưng chẳng có đâu, vì cái thảm kịch nhà tôi là chuyện tâm linh, chứ nhà tôi có làm ăn, lừa đảo ai cái gì đâu mà có kẻ ám hại”

Tìm hiểu từ những gia đình hàng xóm nhà ông Rạng, như nhà ông Nguyễn Văn Thung, bà Nguyễn Thị Tuyết, thì đúng là thời điểm đó có rất nhiều cán bộ an ninh đã túc trực ở nhà dân trong xóm suốt ngày đêm để nắm tình hình.

Có tới mấy chục nhà khoa học cũng vào cuộc. Các nhà nghiên cứu đã về tận nơi lấy mẫu vật đất xung quanh nhà, lấy nước trong bể, nước ở ruộng, nước giếng đem đi phân tích. Họ còn lấy rau cỏ trong vườn, ngoài ruộng, mẫu gạo, thóc trong nhà đem đi. Thậm chí, một nhóm nhà khoa học đã chuyển các mẫu đất ra nước ngoài để phân tích, tìm nguyên nhân, tốn kém cả tỷ bạc, số tiền rất lớn ngày đó.

Ông Nguyễn Văn Thung, là anh trai bà Đào, tức anh vợ ông Rạng nhớ lại: “Hồi đó, ngày nào tôi cũng phải đón tiếp, trả lời mấy nhà khoa học. Họ cứ hỏi đi hỏi lại, vặn vẹo lung tung, đến nỗi tôi từ chối không muốn tiếp nữa. Có lúc tôi phải bảo các anh thông cảm, từ sáng đến chiều tôi cứ tiếp các anh, chưa được ăn miếng nào, tôi mà ngã ra đây, thì các anh cũng không tìm được nguyên nhân nào đâu, lại chỉ gây thêm hoang mang dư luận mà thôi”.

Thời điểm đó, cán bộ điều tra đã thu thập mấy miếng vỏ thuốc trừ sâu vứt ở bờ ruộng, cạnh nhà ông Trần Văn Rạng. Từ việc thu thập mẫu vật đó, mà người dân đồn ầm lên rằng có việc bỏ độc giết người do thù oán. Tuy nhiên, lời đồn này nhanh chóng bị loại bỏ. Cảnh sát điều tra không tìm ra nguyên nhân, động cơ gây án nào. Gia đình ông Rạng chỉ làm thuần nông, không có mâu thuẫn với ai trong làng ngoài xóm. Những vỏ thuốc trừ sâu chỉ là do người dân bỏ lại bờ mương khi pha thuốc phun ruộng lúa, đó là việc hết sức bình thường ở vùng quê lúa.

Trong quá trình diễn ra thảm kịch, các nhà khoa học cũng không tìm được bất cứ loại chất độc nào tồn tại trong mẫu nước, đất, rau, củ, quả ở nhà ông Rạng. Điều này cũng đã được các bác sĩ khẳng định lại bằng việc không tìm ra chất độc nào trong máu những nạn nhân tự dưng lăn ra ngất, co giật, chết. Tóm lại, những kết luận của bệnh viện trong quá trình điều trị cho các nạn nhân nhà ông Rạng, chỉ là suy nhược cơ thể, huyết áp không đều…

Rất nhiều chuyên gia, với máy móc hiện đại cũng đã được điều về nhà ông Rạng để đo phóng xạ khu vực sinh sống. Tuy nhiên, người ta cũng không phát hiện ra điều gì bất thường ở mảnh đất này.

Nhiều chuyên gia phong thủy về đây còn khẳng định, mảnh đất với cây cỏ tốt tươi thế này thì không thể có tia đất xấu, phong thủy xấu. Trong con mắt của các nhà phong thủy, mảnh đất nhà ông Rạng có tới 2 mặt là cánh đồng, thoáng mát, sạch sẽ, trong lành, là chỗ đắc địa để sinh sống.

Và cho đến tận hôm nay, các kiến thức, trí tuệ cũng đã đều bó tay trước những cái chết kỳ lạ này. Câu trả lời cho những cái chết xảy đến với gia đình ông Rạng vẫn được gia đình, xóm làng, kể cả chính quyền địa phương mong chờ. Không có được kết luận chính xác, thì người dân, với vốn hiểu biết chưa ra khỏi lũy tre làng, chỉ có thể đổ cho nguyên do “thánh vật”.

Không biết bấu víu vào đâu, đại gia đình ông Rạng chỉ biết trông chờ vào những ông thầy cúng, thầy bùa. Nhưng khi sự việc trở nên đình đám, họ Trần ở làng này không phải đi tìm thầy nữa, mà thầy cúng, thầy pháp, thầy bùa, nhà ngoại cảm ở khắp cả nước tự đến tìm cách hóa giải kiếp nạn giúp gia đình.

Những nhà tâm linh kỳ lạ

Khi gia đình ông Rạng liêu xiêu, thì ông Nguyễn Văn Thung và ông Trần Văn Lưu là người đứng ra lo liệu mọi việc cho gia đình ông Rạng, kể cả mặt tâm linh. Ông Thung bảo, suốt thời điểm kéo dài cả năm trời, ông không nhớ nổi đã có bao nhiêu thầy bà đến giúp, có lẽ con số phải lên đến cả trăm người.

Có những hôm, thầy cúng, thầy tâm linh nhiều đến nỗi ngồi kín nhà, tràn ra cả sân, vườn. Họ tự chuẩn bị lễ, tự lo ăn uống và làm việc thiện giúp gia đình, chứ gia đình ông Rạng khi đó người chết, kẻ bệnh, kinh tế cạn kiệt, không còn sức lực nào để lo cho những ân nhân đó nữa.

Trong số những ông thầy cúng, thì gia đình ông Rạng ấn tượng nhất với ông Phương ở xã Vũ Đông. Ông này vốn được mời đến để lo phần âm giúp gia đình ông Rạng ngay từ những ngày đầu.

Ngoi nha chet choc bi an o Thai Binh: Ca tram nha tam linh bo chay hinh anh 3

Ngôi nhà xây dở trên nền ngôi miếu của anh Trần Văn Út. 

Hôm trăm ngày ông Rạng, thầy Phương cũng được mời đến. Sau khi cúng bái, ông này tuyên bố hăng lắm. Ông nói, chỉ có ông mới trị được, không ai làm được chuyện này. Thế nhưng, ông vừa tuyên bố xong, thì hàng loạt người lăn ra bất tỉnh, người chết tại chỗ, người chết ở bệnh viện, người phải đi cấp cứu.

Sau sự việc đó, ông Phương cũng quay lại làm tiếp. Ông lập đàn ngũ phủ 5 tầng, lễ bái ghê gớm ở ngôi miếu. Tuy nhiên, đang đốt nhang, lửa cháy đùng đùng, tin rằng sức mình không làm nổi, ông này bỏ chạy thoát thân, không dám quay lại nữa.

Sau khi bà Đào chết được vài hôm, thì mấy chục người đi trên một xe khách lớn đến tận nhà ông Rạng. Họ giới thiệu là hội tâm linh ở mãi TP.HCM. Họ không hỏi gia đình điều gì, cũng không làm phiền đến gia đình. Họ chỉ xin một chỗ trong sân để làm lễ.

Ông Thung kể: “Tôi tiếp xúc với một người trong hội đó, thì họ bảo do bề trên yêu cầu họ về tận làng để giúp gia đình ông Rạng tai qua nạn khỏi. Mấy chục người ngồi thành hàng thành lối. Không ai nói câu gì. Họ tụng kinh hộ niệm hay giải nghiệp gì đó trong vòng 30 phút. Làm lễ xong, họ bảo gia đình cứ yên tâm sinh sống, từ này không phải lo lắng chuyện “ma hành, thánh vật” nữa. Họ đã giải hoàn toàn nghiệp chướng cho gia đình.

Nói xong, họ ra xe rồi vào thẳng Sài Gòn. Đến giờ tôi cũng không hiểu vì sao họ lại nhiệt tình như thế. Họ đi về vất vả mấy ngày trời chỉ để ngồi tụng kinh mấy chục phút. Nhưng rồi, công sức của họ cũng công cốc. Những người trong gia đình ông Rạng, rồi hàng xóm vẫn cứ lăn ra giãy đành đạch, người chết, người phải đi viện cấp cứu”.

Trong số các nhà tâm linh, còn có một người phụ nữ, là tiến sĩ, cô này được các đệ tử đi theo giới thiệu là đã có nhiều năm học ở Trung Quốc, chuyên trị các vấn đề tâm linh. Cô này dùng nhiều máy móc đo đạc, rồi ngồi trước ngôi miếu tập trung tư tưởng, “gọi thần linh” lên “nói chuyện”. Cách làm của cô này vừa mang tính khoa học, vừa tâm linh huyền bí. Suốt một ngày trời cô loay hoay làm lễ, cúng bái, “nói chuyện với các đấng tối cao” ở chỗ ngôi miếu sát bờ ao, nhưng rốt cục cũng chẳng mang lại kết quả gì.

Rồi một ông sư mặc áo vàng, từ trong Nam ra. Ông này đến một mình, mang theo một chiếc chuông nhỏ, một chiếc coong đồng. Ông ngồi theo tư thế kiết già ở giữa sân. Trời nắng trang trang mà vị sư này không thèm che ô, đội mũ, cứ ngồi dưới cái nắng như đổ lửa, rồi hơi nóng hầm hập bốc lên từ sân gạch.

Nhiều người nhìn cảnh ấy mà xót xa, muốn đem ô, đem mũ, thậm chí dựng căn lều ở chỗ vị thiền sư ngồi, song ông từ chối. Ông yêu cầu gia đình không được giúp đỡ ông, cũng không được làm phiền ông, cứ coi như ông không có mặt ở mảnh đất này.

Sau khi phơi nắng suốt một ngày, đến chiều trời nổi giông gió, mây đen ùn ùn kéo đến, rồi mưa như trút nước. Tuy nhiên, vị sư với dáng người còm nhom vẫn ngồi bất động. Miệng ông niệm rất nhỏ, như thể chỉ để ông nghe thấy. Thi thoảng ông vươn tay gõ vào chiếc coong đồng kêu coong coong.

Nhiều người nhìn cảnh vị sư dãi nắng dầm mưa mà không khỏi xót xa, rơi nước mắt. Nhiều người không vái thánh thần ở ngôi miếu, mà cứ xì xụp khấn vái vị sư kỳ lạ nọ. Điều kỳ cục là ông cứ ngồi kiết già giữa sân như thế đến tận sáng hôm sau.

Đến khoảng 9 giờ sáng, đúng thời điểm ông bắt đầu kiết già hôm trước, tức là đủ 24 giờ thì ông đứng dậy. Trong suốt thời gian đó, vị sư này không ăn, không uống, cũng không nói với ai câu gì. Lúc ông hoàn thành công việc, ông cũng không trả lời bất cứ câu hỏi nào. Ông chỉ chắp tay vái chào những người trong gia đình, nói hai chữ “Mô Phật”, rồi quay gót đi. Ngoài đầu đường làng, chiếc xe con sang trọng đã mở cửa sẵn chở vị sư kỳ lạ này đi.

Hành động kỳ lạ của vị sư khiến mọi người đều nghĩ đó là một vị thánh. Ai cũng tin rằng, vị thánh đã đến đất này hóa giải mọi kiếp nạn. Nhưng thật trớ trêu, là sau khi ông sư này đi, thì không những kiếp nạn trong đại gia đình ông Rạng không được hóa giải, mà tiếp tục diễn ra cái chết của anh Trần Văn Út. Sau một thời gian nằm Bệnh viện Bạch Mai, thấy sức khỏe hồi phục, nên các bác sĩ cho về. Về nhà hôm trước, hôm sau anh Út lăn ra đột tử.

Ngay sau hôm anh Út chết, thì một nhóm tâm linh gồm 40 người, là các Phật tử từ Hà Nội về, do một vị sư dẫn đầu. Cảm động với tấm lòng của các Phật tử, con cháu gia đình ông Rạng đã đề nghị mổ gà, làm cơm, nhưng họ đều từ chối. Họ chỉ nhờ gia đình nấu cho mấy nồi nước lã.

Họ đề nghị gia đình không được giết con gì, không được sát sinh trong thời điểm họ tổ chức buổi tụng kinh và trong mấy ngày tới. Nhóm Phật tử này cứ ngồi như vậy đọc kinh từ chiều đến tận sáng hôm sau. Họ không ăn, cũng không ngủ, không nghỉ ngơi gì cả.

Ông Thung kể: “Thấy mấy chục bà, người già, người yếu, mà ngồi tụng kinh từ chiều đến sáng hôm sau, tôi lo lắng lắm. Khuyên họ nghỉ ngơi, ăn uống không được, tôi mắng rằng, các thầy không ăn uống uống gì thì sống thế nào được. Nếu các thầy không chịu ăn uống, nhỡ lăn ra chết thì chúng tôi chôn sao cho xuể. Thú thực, lúc đó tôi cũng sợ họ lăn ra co giật, bất tỉnh. Từng ấy người mà bị một lúc, thì gia đình chúng tôi làm sao mà lo được”. Sáng hôm sau, họ bảo đã cúng xong, rồi đi luôn.

Vị “Thánh” xuất hiện?

Trong số những thầy cúng, thầy bùa, thầy pháp, nhà tâm linh, thì có một ông thầy rất kỳ lạ tên Khương.

Bữa đó, vào buổi chiều, có một người đàn ông chừng 40 tuổi, rất to béo, nhưng ăn mặc rách rưới, da ngăm đen, tướng tá đặc nông dân lam lũ. Thế nhưng, đôi mắt anh rất sáng, toát lên vẻ hiền từ.

Gặp mọi người trong gia đình ông Rạng, anh này từ tốn bảo: “Thưa các thí chủ. Tôi không biết các thí chủ là ai, tên là gì, nhưng tôi biết rõ đại họa xảy đến với gia đình thí chủ. Thánh đã cử tôi phải trực tiếp về đây để giải quyết chuyện này”.

Theo lời kể của người đàn ông giới thiệu tên là Khương này, thì anh ta quê ở mãi Bình Phước, giáp biên giới Campuchia. Gia đình anh này có mấy héc-ta trồng cao su cùng với 4 héc-ta trồng cam, quýt. Từ xưa đến nay, anh này vốn không tin những chuyện tâm linh, thậm chí, anh còn không thờ cúng gì cả.

Ngoi nha chet choc bi an o Thai Binh: Ca tram nha tam linh bo chay hinh anh 6

 Ngôi miếu được gia đình ông Rạng xây lại ở bờ ao.

Sinh ra ở vùng núi non biên giới, mới về Sài Gòn đôi lần, chưa ra miền Bắc bao giờ, nên tỉnh Thái Bình ở đâu anh cũng chẳng biết. Thế nhưng, theo lời kể của anh, hôm đó, anh cùng gia đình đang tiến hành thu hoạch cam, trong giấc ngủ trưa chập chờn tại gốc cây bóng mát giữa rẫy cam, thì một vị “Thánh” râu tóc bạc phơ xuất hiện trước mặt rõ mồn một. Lúc đó, rồi cả sau này, anh cũng không giải thích được đó là giấc mơ, hay là sự thực hiển nhiên trước mắt.

Khi anh đang ngủ, thì ông cụ xưng là “Thánh” này đánh thức anh dậy. Vị “Thánh” này nói: “Tôi là Thánh và tôi đề nghị anh phải lập tức ra Thái Bình giúp đỡ một gia đình đang gặp cảnh chết chóc thảm hại”. Anh Khương bảo: “Tôi có mấy héc-ta cam đang thu hoạch làm sao bỏ đi được? Với lại, tôi đầu tư hết tiền bạc vào vườn cam này, còn đang nợ nần chồng chất, một xu dính túi không có, thì làm sao đi xa thế được”.

Ông cụ râu tóc bạc phơ này nói tiếp: “Anh cứ đi, sẽ có xe đưa xe đón, có người cho tiền để ăn”.

Không biết lời kể của vị thầy pháp này có đúng không, nhưng theo anh ta thì hàng loạt điều kỳ lạ đã xảy ra. Khi anh ta ra khỏi rẫy, thì gặp một anh lái xe tải trong ấp có việc xuống Sài Gòn. Anh lái xe đã mời anh Khương cùng đi cho vui. Anh ta đã chở anh Khương đến tận bến xe Miền Đông.

Anh này tìm xe khách về tận Thái Bình. Khi xe chuyển bánh, bà chủ xe, người thu tiền đã trò chuyện với anh. Anh này tâm sự thật về chuyện có một vị “Thánh” bảo cứ ra Thái Bình, để giúp một gia đình đang gặp đại nạn, chết chóc liên tục, chứ bản thân anh cũng chưa biết đi đâu.

Nghe anh này kể vậy, bà chủ xe tái mặt. Hóa ra, bà chủ xe này là người ở xã Vũ Tây, biết rõ chuyện “ma hành, thánh vật” đang gây náo loạn trong tỉnh. Bà khẳng định rằng, “Thánh” hiển linh chỉ anh về xã Vũ Tây cứu giúp đại gia đình ông Trần Văn Rạng.

Mặc dù đã chuẩn bị một chút tiền trong túi, nhưng khi trả tiền, bà chủ xe này nhất định không lấy. Không những thế, bà còn trả tiền ăn cho anh trong suốt hành trình. Bà chủ xe này nhất nhất xưng là con, gọi anh ta bằng cậu.

Khi về đến bến xe Thái Bình, bà kêu xe ôm chở anh về tận nhà ông Rạng và trả tiền trước cho xe ôm. Bà cũng hẹn “cậu” có mặt ở bến xe vào mấy hôm nữa, để bà đưa “cậu” vào Sài Gòn, lo cho “cậu” về đến tận Bình Phước mà không mất bất cứ đồng nào.

Ngoi nha chet choc bi an o Thai Binh: Ca tram nha tam linh bo chay hinh anh 7

 Khu vườn đầy những câu chuyện kinh dị.

Nghe câu chuyện về ông thầy pháp tên Khương này, con cháu ông Rạng hết sức cảm kích. Anh này không đòi hỏi gì, cũng không yêu cầu gia đình phải phục vụ cơm nước. Theo lời anh ta, bình thường anh ăn rất khỏe, mỗi bữa 4-5 bát cơm không biết no, thế nhưng, thời gian ở nhà ông Rạng, anh từ chối mọi đồ ăn. Đến bữa, anh này chỉ hái mấy quả mướp ở vườn nhà ông Rạng luộc ăn, rồi lại ngồi kiết già, nhắm mắt nói bằng thứ tiếng mà không ai hiểu gì.

Bản thân anh này, lúc tỉnh táo lại, cũng không biết anh đã nói gì. Anh bảo rằng, khi ngồi nhắm mắt, vị “Thánh” đã nhập vào anh, nói thay anh. Khi đó, anh không điều khiển được lý trí của mình. Theo kế hoạch mà vị “Thánh” kia sai bảo, thì việc cúng bái tại nhà ông Rạng phải diễn ra liên tục 3 ngày 3 đêm.

Tuy nhiên, đến buổi chiều ngày thứ 2, ông trưởng thôn Phạm Văn Đ. xuất hiện trong tình trạng say xỉn. Ông trưởng thôn đã tuyên bố đuổi thẳng cổ tất cả thầy cúng, thầy pháp khỏi nhà ông Rạng, ra khỏi ngôi làng do ông quản lý.

Ông thầy pháp tên Khương bảo: “Tôi làm việc nghĩa, không lấy đồng nào của gia đình, đến cả lễ lạt cũng tự tôi bỏ tiền sắm sửa, tôi cũng không làm phiền đến làng xóm, cớ gì anh đuổi tôi?”.

Không bắt bẻ được gì, ông trưởng thôn bỏ đi. Tuy nhiên, lát sau ông quay lại với chiếc gậy trên tay. Ông trưởng thôn cứ cầm gậy chọc vào ông thầy pháp này. Đúng lúc đó, tại nhà ông Rạng xuất hiện thêm mấy nhà tâm linh nữa. Thế nhưng, ông trưởng thôn đã đuổi họ về hết.

Không thể tiếp tục cúng bái, thầy pháp tên Khương này buộc phải rời nhà ông Rạng. Anh ta đi bộ từ xã Vũ Tây lên bến xe Thái Bình. Một người con của ông Rạng đã phóng xe máy đuổi theo nhưng không kịp. Vị thầy pháp bí ẩn đã lên xe đi mất.

Câu chuyện về ông thầy pháp này có lẽ sẽ không để lại nhiều dấu ấn, bởi trong thời gian đại gia đình ông Rạng diễn ra nhiều chuyện liêu xiêu, có tới cả trăm nhà tâm linh tìm đến giúp đỡ một cách tự nguyện, nếu không có chuyện mấy năm sau, vị trưởng thôn này qua đời một cách kỳ quái – như đồn thổi của người dân trong làng.

Ông Khiết, Phó chủ tịch UBND xã Vũ Tây: “Hồi gia đình ông Rạng gặp chuyện đau lòng, tôi đang làm Trưởng Công an xã Vũ Tây. Nguyên nhân nào khiến đại gia đình này có nhiều người qua đời thì tôi không nắm được. Lúc đó, các nhà khoa học vào cuộc, chính quyền cũng vào cuộc, nhưng chưa tìm được nguyên nhân. Lực lượng công an cũng điều tra, tìm hiểu nhưng không tìm thấy dấu hiệu hình sự. Chuyện gia đình ông Rạng cũng đã trôi qua rồi, chúng tôi đã tuyên truyền để người dân hiểu, không ai còn lo lắng, sợ hãi nữa. Cuộc sống của người dân trong vùng cũng đã ổn định từ mấy năm nay.

Kỳ 6: Cả chục người lăn ra bất tỉnh vì gặt lúa giúp hàng xóm

Con chuột khổng lồ

Sau khi anh Trần Văn Út đột tử tại nhà, thì trụ cột gia đình chỉ còn mỗi bà Phạm Thị Tâm và anh Trần Văn Việt, con trai duy nhất còn sống của vợ chồng ông Rạng. Khi đó, bà Tâm đã 77 tuổi, là mẹ nuôi ông Rạng. Anh Việt thì chưa có vợ con gì cả. Gia đình sợ hãi, nên sơ tán hết cháu chắt, không cho ai về nữa. Những người con gái của ông Rạng cũng ở hết nhà chồng, hoặc di chuyển đi nơi khác. Chị Vũ Thị Nhung, vợ anh Út về nhà bố mẹ đẻ ở xã Vũ Đông ở, còn vợ anh Viết thì đưa cậu con trai duy nhất trốn vào miền Nam trong một đêm mưa gió.

Sợ hãi cảnh tượng chết chóc, nên nhiều gia đình ở xóm 9 (Vũ Tây, Kiến Xương, Thái Bình) đã bỏ hoang nhà cửa, trốn đi nơi khác. 5 hộ dân ở cạnh nhà ông Rạng đã dọn hết đồ đi, khóa cửa để đó. Phải thời gian khá dài sau, tình hình yên ổn, không xảy ra chết chóc nữa, họ mới tìm về.

Đại gia đình họ Trần họp lại, bàn bạc và thống nhất nhờ 2 người làm trụ cột, qua lại giúp đỡ gia đình, gồm ông Nguyễn Văn Thung, là anh vợ ông Rạng và ông Trần Văn Lưu, là chú ruột của ông Rạng. Ông Thung là người ngoài họ Trần, nên không sợ bị liên quan, còn ông Lưu thì tuyên bố: “Tôi cũng đã ngoài 70, chết cũng được rồi. Nếu thánh thần có vật tôi, tôi cũng chẳng có gì phải hối tiếc”.


Ông Nguyễn Văn Thung đi đâu, làm gì cũng mang theo con dao này với niềm tin trừ tà. 

Ban ngày, ông Thung làm việc ở nhà, tối sang nhà ông Rạng ở cùng với ông Lưu. Nhà ông Lưu ở ngay sau nhà ông Rạng. Ông Thung kể: “Tôi khỏe vía, nhưng thú thực trải qua từng ấy chuyện, nên cũng hãi lắm. Tôi thường ăn cơm từ lúc 5 giờ chiều, rồi 6 giờ qua nhà cô Đào. Đi lúc đó trời còn sáng cũng đỡ hãi”.

Trong suốt những ngày ở nhà ông Rạng, vật bất ly thân với ông Thung chính là con dao vót nan dài quá nửa mét, vô cùng sắc bén, chỉ liếc dọc ống chân, lông rụng tơi tả. Lúc đi đường, ông kẹp dao vào nách, đêm ngủ ông gối dao trên đầu. Trong túi áo lúc nào cũng có một vốc tỏi… đuổi ma, cùng những mảnh bùa do thầy pháp làm cho.

Những ngày sau khi nhà ông Rạng chết vãn người, xuất hiện rất nhiều chuyện kỳ dị. Ban ngày con rắn rất lớn cứ nằm trên cây xoài ngay cạnh sân, trước cái nhà bếp. Đêm xuống, đúng chỗ cành cây đó thì không thấy rắn đâu mà thay vào đó là con chim lợn đứng bất động, hai mắt đỏ lừ nhìn xuống khiến mọi người đều khiếp vía.

Rắn to hay chim lợn thì nhiều người gặp, nhưng con chuột khổng lồ, to hơn cả mèo, nặng ít nhất 3kg và có hành vi kỳ quái, thì không ai giải thích nổi.

Ở Thái Bình có 2 loài chuột rất lớn, là chuột cống (có màu xám, bắt gà vịt ăn, chứ không phải chuột sống trong cống ở thành phố) và chuột đất. Người dân vẫn bắt hai loài chuột này làm thịt. Tuy nhiên, chúng chỉ nặng không quá 1kg. Chuột to hơn cả mèo, nặng áng chừng 3kg thì chưa ai từng thấy.

Đúng hôm anh nông dân “hiển linh thành Thánh” từ Bình Phước ra cúng, bị trưởng thôn đuổi đi, thì chuột khổng lồ xuất hiện.

Bữa đó, khoảng 9 giờ đêm, ông Thung, ông Lưu, anh Việt ngồi uống nước chè ở hiên. Mấy thanh niên, bạn bè của anh Viết, Út và Việt cũng tụ tập ngồi ở hiên nhà. Mọi người hãi hùng khi thấy con chuột to bằng cái phích lững thững bò ra giữa sân, lừng lững tiến lại ngay mép hiên.

Giống chuột hễ nhìn thấy người là bỏ chạy, đằng này con chuột xuất hiện, thì đám thanh niên bỏ chạy tán loạn. Mấy người đi vòng chỗ khác, chạy tót về nhà. Vài người chui vào trong nhà đóng kín cửa, mồ hôi nhễ nhại vì khiếp sợ.

Ngoi nha bi an o Thai Binh: Chuot khong lo xuat hien, ca xom bo chay, thi nhau bat tinh hinh anh 2

 Căn bếp đổ nát nhà ông Rạng.

Theo lời anh Việt, có lúc con chuột ấy còn dựng người lên như thể đứng bằng 2 chân. Nó ngồi ở sân, ngay bậc thềm đến 20 phút, rồi mới bỏ đi. Khi con chuột bỏ đi, ai về nhà nấy vì quá sợ.

Sự xuất hiện của con chuột khiến mọi người sợ hãi nên đêm ấy, tự tay ông Thung đóng kín các cửa sổ, cửa chính. Thế nhưng, đang thiu thiu ngủ, ông Thung và ông Lưu bị đánh thức bởi tiếng cánh cửa sổ đập chan chát. Rõ ràng, ông Thung tự tay đóng cửa sổ. Cánh cửa được cài bằng móc thép rất chắc chắn, nên người bên ngoài không thể mở được. Hơn nữa, đêm khuya lặng thinh, không có tiếng gió xào xạc, vậy thứ gì khiến cánh cửa cứ vật vờ đóng vào mở ra chan chát?

Cả ông Thung và ông Lưu đều hãi hùng, đùn đẩy cho nhau, không ai chịu trở dậy xem xét tình hình. Tiếng đập cửa mỗi lúc một lớn, một nhanh, không thể yên lòng được, nên ông Thung phải vác dao nhỏm dậy. Ông vừa đi về phía cửa sổ vừa trấn tĩnh mình bằng cách nói thật to: “Có cái cửa không đóng được chặt thì còn làm ăn được gì”. Rõ ràng ông là người đóng cửa, nhưng ông cứ nói đổng thế. Cài cửa rồi, không còn tiếng đập cửa nữa, nhưng hai ông thức chong chong, nhắm mắt mãi không ngủ được.

Hai ông nằm nói chuyện đến 2 giờ sáng, thì ông Lưu đòi về. Ông Lưu bảo: “Thôi, ông nằm ở đây trông nhà cho chúng nó, tôi về nhà đây. Đêm qua tôi đã không ngủ, đêm nay mà thức trắng nữa thì quỵ mất”. Nói xong, ông Lưu bỏ về nhà mình.

Ông Thung kể: “Có 2 người đã sợ, đằng này có mỗi mình thì còn hãi hơn. Thôi thì đâu cũng mất ngủ rồi, thì cho mất ngủ cả thể. Nhà có bóng điện nào tôi bật hết lên. Sau đêm hôm đó, tôi cứ bật điện sáng trưng, muốn hết bao nhiêu điện thì thây kệ nhà nó. Tắt điện thì sợ không ngủ được, còn điện sáng thì mình cũng chả ngủ được”.

Đồng loạt ngất xỉu

Sáng hôm sau, như kế hoạch đã định, 6 giờ sáng ông về nhà mình. Tại nhà ông Thung, con cháu ông đã tụ tập đông đủ. Theo kế hoạch thì hôm đó ông Thung sẽ chỉ đạo việc gặt lúa cho nhà ông Rạng. Hơn mẫu ruộng nhà ông Rạng lúa đã chín vàng, nhưng nhà ông Rạng người chết, người bệnh, người bỏ đi, chẳng có ai làm thay cả. Ông Thung đã kêu gọi con cháu mình tụ họp gặt lúa, phơi phong, rồi chở thóc trả cho gia đình nhà ông Rạng. Sân vườn nhà ông Rạng rộng rãi, nhưng chẳng ai dám đến, nên mọi việc được thực hiện ở nhà ông Thung.

Tổng số có đến 20 người. Người gặt, người chở lúa. Đến gần trưa, lúa đã chất ngập nửa sân nhà ông Thung. Theo tính toán, đến chiều thì từng ấy người gặt xong cả mẫu lúa. Ông bà Thung ở nhà phụ trách bếp núc, nấu nướng. Theo kế hoạch, đầu giờ chiều, thợ gặt tiếp tục gặt lúa, vài người được phân công ở nhà phụ trách tuốt lúa, phơi phong. Mọi việc được gói gọn trong vòng một ngày, rồi ai về nhà đó.

Bữa trưa được dọn ra gồm 3 mâm cơm. Hai mâm bày dưới nền nhà, một mâm trên giường. Mâm đàn ông ngồi trên giường, còn phụ nữ ngồi dưới đất. Rượu được rót ra, mỗi người một chén.

Ông Thung nâng chén rượu, uống được một nửa thì thấy người chếnh choáng. Ông bảo: “Tao uống rượu chưa bao giờ say, sao nay lạ thế nhỉ? Tao mới uống có nửa chén mà thấy mất thăng bằng là thế nào?”. Vừa nói xong câu đó, ông đổ ật ra giường. Ngay lập tức, 6 đàn ông đang ngồi uống rượu trên giường cùng lăn ra co giật, mâm bát đổ tung tóe. Những người này gồm anh Vĩnh - là con trai ông Thung, rồi anh Cảo – con rể ông Thung, cùng các cháu của ông Thung, đều khỏe mạnh, không ốm đau, không bệnh tật gì. Điều đặc biệt là họ không có liên hệ gì với gia đình ông Rạng.

Dưới nền nhà, mẹ đẻ ông Thung cũng lăn ra ngất. Mấy chị em phụ nữ sợ hãi chạy tán loạn. Có người chạy ra ngoài ngõ mới lăn ra ngất. Tình trạng lúc đó ở nhà ông Thung vô cùng náo loạn, kinh khiếp. Làng trên xóm dưới người chạy đi, kẻ chạy lại rầm rầm.

Ngất một lúc, thì ông Thung chợt hồi tỉnh, nhận biết được mọi việc xung quanh. Người ra người vào, người kêu khóc, người cấp cứu. Mùi dầu gió sực nức khắp nhà. Mặc dù ông Thung là người đầu tiên rơi vào trạng thái kỳ cục đó, nhưng ông vẫn bình tĩnh mắng mọi người: “Chúng mày có trật tự đi không. Cứ náo loạn như thế thì làm được việc gì. Bình tĩnh gọi xe cấp cứu mau lên, chở đi viện không chết cả lũ bây giờ”.

Dặn dò, cắt đặt công việc cho mọi người xong, ông Thung chợt nhớ đến lời dặn của bà Hà Thị Lãm, khi đó là Phó Chủ tịch UBND tỉnh Thái Bình. Bà Lãm dặn rằng, hễ có việc gấp gì xảy đến với gia đình ông Rạng, thì ông Thung cứ bấm số gọi trực tiếp, bà sẽ chỉ đạo sát sao mọi việc. Sự việc nhà ông Rạng khi đó được tỉnh quan tâm sát sao, nên ông Thung có thể điện thoại bất cứ lúc nào, không kể ngày đêm, khuya khoắt. Bấm điện thoại báo cáo tình hình với bà Lãm xong, thì ông Thung lại xỉu đi, không biết gì nữa.

Lát sau, xe con xe to, xe lớn xe bé, biển xanh biển đỏ, đỗ từ đầu ngõ nhà ông Thung ra mãi đường cái, tới vài chục chiếc. Tiếng xe cấp cứu hụ còi inh ỏi làng quê đang náo loạn vì sự kiện kinh hoàng này. Điều lạ lùng nhất với người dân là những người gặt lúa cho nhà ông Rạng đều là họ Nguyễn, không có dính dáng, liên quan gì đến họ Trần. Người dân đồn toáng lên rằng, chỉ vì những người này gặt lúa cho gia đình ông Rạng, mà bị thần thánh ở mảnh đất nhà ông Rạng quở phạt.

Khi đó, lập tức lực lượng an ninh vào cuộc, phong tỏa hiện trường, giữ thông tin bí mật, để tránh hoang mang dư luận. Một cán bộ an ninh được phân công nằm vùng ở nhà ông Thung từ hôm đó.

Hơn chục người đang co giật, bất tỉnh được đưa lên xe cấp cứu chuyển gấp lên Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thái Bình. Các phương tiện cấp cứu đã chuẩn bị sẵn, các bác sĩ đầu ngành về chống độc, thần kinh được huy động từ Hà Nội về để can thiệp kịp thời, tránh để tình trạng căn bệnh kỳ quái này lan rộng.

Nhiều chuyên gia về bệnh lây truyền, virus cũng được điều đến hiện trường để tìm kiếm nguyên nhân khiến hàng loạt người tự dưng co giật, lăn ra ngất xỉu. Các mẫu thức ăn, rượu, nước uống ở nhà ông Thung cũng được các nhà khoa học niêm phong, đem đi nghiên cứu. Tuy nhiên, các nhà khoa học cũng chẳng phát hiện được chất lạ gì trong đồ ăn, nước uống, cũng không phát hiện được virus gì có khả năng khiến hàng loạt người cùng lăn ra ngất xỉu một lúc như vậy.

Chết vì bắt cá?

Ông Thung nằm ở bệnh viện 2 ngày thì sức khỏe hồi phục. Bác sĩ giữ lại để theo dõi, nhưng ông thấy sốt ruột nên nhất định đòi về. Đám con cháu ông, những người gặt lúa giúp gia đình ông Rạng, người nhanh thì 2 ngày sau xuất viện, còn lại đều nằm viện tới 1 tuần mới được về.

Đám con cháu ông Thung sợ hãi chuyện này quá, nên đi hết chùa nọ, miếu kia thờ cúng, xin xỏ thần linh đừng vì chuyện gặt hộ nhà ông Rạng mà quở phạt. Ông Thung phải đích thân quát nạt, sai khiến đám con cháu còn khỏe mạnh, mới gặt nốt được ruộng lúa và xử lý đống thóc giúp nhà ông Rạng. Nếu không có sự nhiệt tình, cứng vía của ông Thung, thì cả mẫu lúa chín vàng nhà ông Rạng, có vứt đi cũng chẳng ai dám động vào.

Cho đến mãi về sau này, họ hàng, người thân, làng xóm, còn hãi hùng mảnh đất nhà ông Rạng đến nỗi, bất cứ thứ gì thuộc về nhà ông Rạng, đều không ai dám động vào. Cây xoài cổ thụ đến mùa hè, quả sai trĩu chịt chẳng ai dám hái. Những quả trứng gà mọng vàng trên cây, tự rụng xuống đất tỏa mùi thơm lừng không ai dám ăn. Hoa trái trong vườn nhà ông Rạng cứ tự đơm, tự rụng, chẳng ai dám màng đến.

Nhắc đến ao cá nhà ông Rạng, ông Thung tỏ vẻ tiếc nuối. Ngay cạnh mảnh vườn nhà 3 bố con ông Rạng, có một ao cá. Ao nằm ngay cạnh cánh đồng, nước ra vào ăm ắp, nên nuôi cá lớn rất nhanh. Cá dưới ao toàn những con cá trắm 5-10kg, quẫy ủng oảng, rất thích mắt, nhưng chẳng ai dám câu kẹo, vét lưới hay đánh điện, mặc dù nhà ông Rạng chẳng còn ai ở, bỏ hoang cả nhà, ao, vườn.

Theo lời ông Thung, nghe chuyện ông kể về ao cá toàn cá to, một anh làm rể họ Trần ở xóm 9, thích quá liền bảo: “Cá to thế mà không ai bắt thì phí lắm. Bố để con xuống ao kiếm ít cơm gạo”. Nói rồi, anh này đi thuê người đánh lưới. Tuy nhiên, nhắc đến ao cá nhà ông Rạng, mấy ông đánh lưới thuê đều từ chối.

Không nhờ được ai, anh này tự mượn lưới vét chở đến bờ ao. Anh gọi ông Thung, nhưng ông chỉ ra xem, không dám lội xuống ao. Không còn cách nào khác, anh này đành cột một đầu lưới, rồi tự mình cầm một đầu kéo vòng quanh ao. Mẻ lưới thu được vô số cá. Anh này chỉ tóm vài con trắm cỏ, toàn 7-8kg một con, còn lại thả cho cá ra hết, để lần sau đánh bắt tiếp. Anh trút cá vào bao, vác ra chợ bán. Còn ế 2 con, đem về ăn.

Chuyện anh này đánh cá xảy ra sau khi nhà ông Rạng bỏ hoang 3 năm. Vài hôm sau buổi đánh cá, anh này lăn ra chết đột ngột. Theo ông Thung, anh này hoàn toàn khỏe mạnh, béo tốt, không có tiền sử bệnh tật gì cả. Cái chết của anh này chỉ là ngẫu nhiên trùng khớp vào thời điểm đánh cá, nhưng cũng khiến cả làng kinh hãi, đồn thổi rất hãi hùng. Từ đó, không ai dám động vào ao cá nhà ông Rạng nữa.

Quay lại chuyện đại gia đình ông Thung có nhiều người ngất xỉu. Sau khi ra viện, dù đêm xuống, nhưng ông Thung đã ngay lập tức chạy đến nhà ông thầy Mơ. Gặp ông Mơ, ông Thung bảo: “Tình hình nghiêm trọng quá rồi thầy ơi. Gia đình tôi mà không cúng bái tử tế thì phen này chết cả đống”. Ông thầy Mơ bảo: “Thánh thần quở phạt gia đình ông Rạng, chứ nhà ông có liên quan gì đâu. Ông cứ yên trí mà về, sớm mai tôi sẽ xuống nhà làm lễ xin cho tai qua nạn khỏi”.

Sớm hôm sau, ông thầy Mơ xuống làm lễ. Khi đó, đại gia đình ông Thung có 6 người đang nằm viện, sống chết thế nào chưa biết, nên rất lo sợ. Ông thầy Mơ lập đàn cúng bái ở giữa sân, rồi trong nhà ông Thung. Làm lễ xong, ông Mơ tiếp tục sang nhà ông Rạng cúng bái tiếp.

Hôm đó, cũng có mấy nhà tâm linh đang làm lễ ở ngôi miếu nhà ông Rạng. Cúng xong, ông thầy Mơ này cùng với một số nhà tâm linh có mặt đề nghị gia đình ông Rạng xây lại ngôi miếu, chứ ngôi miếu xây ở bờ ao không hợp phong thủy, không đúng ý thần linh.

Đích thân ông Mơ cùng mấy thầy pháp tiếp tục chọn đất. Có người còn chắp tay nói chuyện với thinh không, nhưng xong việc rồi, họ tiết lộ rằng họ vừa thỉnh thần linh, thổ địa lên tiếp kiến.

Cuối cùng, mấy ông thầy pháp cùng thống nhất xây tiếp ngôi miếu nữa ở sát bức tường, đối diện ngôi nhà mái bằng đang xây dở của anh Trần Văn Út. Ngôi miếu này được xây giống hệt ngôi miếu đã phá, cách nền ngôi miếu đã phá khoảng 5m. Mặt tiền miếu quay thẳng vào nhà anh Út. Không gian giữa ngôi miếu và ngôi nhà là cái sân nhỏ.

Ngoi nha bi an o Thai Binh: Chuot khong lo xuat hien, ca xom bo chay, thi nhau bat tinh hinh anh 6

 Nghe lời các thầy, mọi người xây lại ngôi miếu ở sân, với mong mỏi tai họa dừng lại.

Các nhà tâm linh đều khẳng định, nếu xây lại ngôi miếu thì đại gia đình ông Rạng sẽ tai qua nạn khỏi. Nếu không, thánh thần sẽ tiếp tục bắt người trong gia đình ông Rạng để trừng phạt. Lúc đó, không ai dám nghi ngờ lời phán của các thầy pháp. Thế là, vài hôm sau, thợ xây được gọi đến và ngôi miếu mới đã hiện diện trong sân nhà anh Trần Văn Út. Vậy là, phá một ngôi miếu, nhà ông Rạng phải đền tới 2 ngôi.

Tuy nhiên, giông bão vẫn không ngừng xảy đến với đại gia đình ông Trần Văn Rạng. Bà Nguyễn Thị Tâm, là thím ruột kiêm mẹ nuôi ông Rạng, người cuối cùng còn sống ở “mảnh đất dữ” này, tiếp tục theo con cháu về với tổ tiên.

Ông Bùi Trọng Liễn, Chủ tịch UBND xã Vũ Tây: “Thời điểm tai họa xảy đến với gia đình ông Trần Văn Rạng, lãnh đạo xã chỉ đạo, giám sát sự việc rất sát sao. Thời kỳ đó, bà Hà Thị Lãm, Phó Chủ tịch UBND tỉnh bảo do nhiễm khí độc. Tuy nhiên, sau đó, lại không có kết luận gì về nguyên nhân. Người ta cũng không tìm ra khí độc tồn tại ở khu vực. Tôi cũng không tin có khí độc, vì nếu có khí độc, thì những người có mặt ở đó, thậm chí người dân trong làng đều phải lăn ra ngất xỉu, hoặc chết, chứ không có chuyện rải rác vài người trong gia đình ông Rạng gặp hiện tượng đó.

Tôi thiên về suy nghĩ do những người trong gia đình ông Rạng hoảng quá mà sinh bệnh rồi chết. Sau này, có một thời gian người con gái ông Rạng ở Vũ Đông vẫn sang cấy ruộng, thu hoạch lúa, nhưng không thấy xảy ra vấn đề gì nữa. Theo tôi, mọi người hoảng sợ, rồi cứ đồn đại, suy diễn, nên sự việc mới ầm ĩ, mang đầy màu sắc dị đoan như thế.

 Kỳ 7: Cái chết cuối cùng khép lại bi kịch của đại gia đình chết chóc bí hiểm ở Thái Bình

Cái chết cuối cùng

Để độc giả hình dung lại được những bi kịch xảy đến liên tiếp với đại gia đình ông Trần Văn Rạng (Xóm 9, Vũ Tây, Kiến Xương, Thái Bình), xin được sơ lược vài dòng về loạt bi kịch này:

Sau khi phá ngôi miếu ở vườn để xây dựng ngôi nhà, thì anh Trần Văn Viết, con trai ông Rạng – bà Đào bỗng đãng trí, lẫn lộn, thường ngủ li bì, rồi chết sau một cơn co giật cứng người.

Anh Viết chết vào tháng 3, thì đến tháng 5, ông Trần Văn Rạng rơi vào trạng thái bị co giật tương tự, rồi chết sau một cú sốc, dù đã được bệnh viện chăm sóc đặc biệt. Các bác sĩ không tìm được nguyên nhân, nên chỉ có thể kết luận là tai biến mạch máu não.

Đến trăm ngày ông Rạng, khi mọi người đang thực hiện lễ cúng, do ông thầy cúng chủ trì, thì bất ngờ hàng loạt người trong gia đình ông Rạng đột nhiên lăn ra co giật, miệng sùi bọt, bất tỉnh nhân sự. Cả nhà anh Trần Văn Út (anh út là con trai thứ 3 của ông Rạng), gồm anh Út, vợ là Vũ Thị Nhung, cùng cháu Trần Quốc Khánh đều bất tỉnh nhân sự.

Ngoi nha chet choc bi an o Thai Binh: Cai chet cuoi cung khep lai chuoi bi kich hinh anh 1

 Đám tang ông Trần Văn Rạng.

Điều đau xót là cháu Khánh, con trai duy nhất của anh Út, cháu nội ông Rạng đã mất tại chỗ. Bà Nguyễn Thị Đào, vợ ông Rạng, mẹ anh Út cũng lăn ra co giật đúng hôm trăm ngày chồng. Bà Đào mất tại bệnh viện, cùng ngày với cháu Khánh. Anh Trần Văn Út được chăm sóc ở bệnh viện Bạch Mai rất chu đáo, nhưng ra viện hôm trước, hôm sau anh đột ngột qua đời.

Tất cả những cái chết này đều được kết luận là mắc hội chứng não cấp. Bác sĩ Phạm Duệ, khi đó là Phó trưởng Khoa Chống độc, Bệnh viện Bạch Mai tin rằng hiện tượng này là ngộ độc bởi loại hóa chất gây co giật. Tuy nhiên, tất cả các xét nghiệm đều không tìm ra loại chất độc nào gây nên triệu chứng chết người, mặc dù quá trình họ nằm viện cứ lúc tỉnh lúc mê, là trạng thái của những người trúng độc nặng.

Sự kiện hàng loạt người lăn ra co giật, chết chóc trong bữa cúng trăm ngày của ông Rạng thực sự sốc với toàn thể họ Trần cũng như dân làng. Con cháu họ Trần ở trong vùng được sơ tán khỏi “vùng nguy hiểm”.

Cháu Trần Văn Bảo, con trai anh Viết, đã được mẹ đưa thẳng vào Nam trong đêm, để tránh khỏi mảnh đất đầy đau thương, chết chóc. Chị Vũ Thị Nhung, vợ anh Út cũng không dám trở về nhà chồng nữa. Thậm chí, các hộ dân xung quanh, dù không có họ hàng gì với gia đình ông Rạng, cũng dọn đồ đạc chuyển đi nơi khác sinh sống.

Mảnh đất rộng mênh mông, với tổng số 3 ngôi nhà khang trang, cùng 3 căn nhà ngang rộng rãi của đại gia đình ông Rạng chỉ còn mỗi bà Phạm Thị Tâm, khi đó đã 77 tuổi, là bà thím và cũng là mẹ nuôi của ông Rạng trụ lại. Con trai nuôi, con dâu, cùng các cháu, chắt đều đã vong mạng, khiến lòng bà đau như cắt.

Dù sợ hãi lắm, nhưng bà là người còn lại duy nhất của gia đình, nên phải ở nhà để khói hương. Người đi về giúp đỡ bà Tâm là ông Nguyễn Văn Thung và ông Trần Văn Lưu. Chỉ có 3 con người già cả đó dám đối diện với cái chết tưởng như đang cận kề trước mắt. Họ hàng ngày lo hương khói cho những người đã khuất, tiếp đón các nhà tâm linh ở khắp nơi về, trả lời hàng ngàn câu hỏi của các nhà khoa học, quan chức, lực lượng công an…

Vào ngày 1-10, đúng một tháng sau hôm trăm ngày ông Rạng, sau đúng một tháng đám con cháu của bà nhất loạt lăn ra đất giãy đành đạch, thì bà Phạm Thị Tâm đã bị vận hạn ghé thăm.

Theo lời anh Trần Văn Việt, hôm đó là buổi sáng, bà Tâm đang ăn cơm cùng 2 đứa cháu, thì bà kêu khó chịu, chân tay run lẩy bẩy, sùi bọt mép rồi rơi vào trạng thái co giật toàn thân y như con cháu. Gia đình đã khẩn cấp đưa đi Bệnh viện Đa khoa Thái Bình

Cũng theo lời anh Việt, bà Phạm Thị Tâm, còn gọi là bà Khuê, vì có chồng là ông Trần Văn Khuê. Ngày đó, nhiều người thắc mắc, không hiểu sao, bà Tâm là mẹ ông Rạng, nhưng lại chỉ nhiều hơn ông Rạng có 12 tuổi (Khi đó bà Tâm 77 tuổi, ông Rạng 65 tuổi).

Thực ra, bà Tâm là thím của ông Rạng. Bà Tâm là người xã Vũ Lạc, lấy ông Khuê, nhưng không có con. Ông Khuê mất sớm, bố mẹ ông Rạng cũng mất sớm, nên ông Khuê nuôi dưỡng ông Rạng từ bé và coi ông như con ruột của mình. Vợ chồng ông Rạng từ trong sâu thẳm đã coi bà Tâm là mẹ và các cháu coi bà Tâm là bà, các chắt coi là cụ. Thậm chí, người dân trong vùng cũng không biết gia cảnh ông Rạng và bà Tâm, nên họ mặc định là mẹ con. Họ cũng xưng hô là mẹ con, chứ không phải thím cháu.

Bà Tâm được điều trị tích cực tại Khoa Hồi sức cấp cứu, Bệnh viện Đa khoa Thái Bình. Các bác sĩ phải luồn ống nội khí quản để bà Tâm thở dễ dàng, nhằm tìm cách bảo toàn tính mạng cho bà, tiếp tục điều tra nguyên nhân khiến bà rơi vào trạng thái co giật nguy hiểm.

Sau mấy ngày điều trị, bà Tâm đã thoát khỏi tình trạng nguy hiểm. Bà đã được đưa về phòng theo dõi. Bệnh viện bố trí một phòng riêng để tiện giám sát, cũng là để lãnh đạo đến thăm.

Gia đình phân ông 2 người lên trông coi là em dâu Bùi Thị Hợi (bà Hợi khi đó 69 tuổi, ở xã Vũ Lạc) và bố vợ anh Trần Văn Út là ông Vũ Văn Bình (ông Bình lúc đó 52 tuổi, quê xã Vũ Đông).

Tuy nhiên, hai người này vừa lên trông bà Tâm được vài tiếng, thì bỗng bủn rủn tay chân, rồi lăn ra bất tỉnh, chân tay co giật đùng đùng ngay tại giường bệnh. Thế là hai người lên trông nom bà Tâm lại tiếp tục nhập phòng cấp cứu.

Điều kinh dị xảy ra ngay sau hôm hai người trông nom bà Tâm phải cấp cứu, đó là Bệnh viện Đa khoa Thái Bình tiếp tục đón gần chục bệnh nhân có biểu hiện tương tự, được chuyển lên từ nhà ông Thung, khi họ gặt lúa cho đại gia đình nhà ông Rạng.

Ngoi nha chet choc bi an o Thai Binh: Cai chet cuoi cung khep lai chuoi bi kich hinh anh 3

 Khu đất rộng rãi và những ngôi nhà bỏ hoang nhiều năm, không ai dám ở.

Mặc dù các bác sĩ khẳng định bà Phạm Thị Tâm đã qua cơn nguy kịch, thế nhưng, sau đúng 20 ngày điều trị, theo dõi thận trọng, bà Tâm đã qua đời sau một cơn co giật bất ngờ, ngay trên giường bệnh.

Ông Nguyễn Văn Thung vẫn nhớ như in cảnh tượng hôm đó: “Cái ngày bà Tâm chết vẫn ám ảnh tôi đến hôm nay. Hôm đó, khoảng 5 giờ chiều, nghe tin bà Tâm chết, cả gia tộc họ Trần bỏ chạy tán loạn, không ai dám đến nữa. Dân làng thì không ai dám lại gần nhà ông Rạng, chứ đừng nói chuyện vào nhà. Những người dân gần nhà ông Rạng thì đã bỏ đi hết. Các nhà tâm linh, người chào thua, người cũng không dám đến nữa, vì họ cúng bái mãi mà không có tác dụng gì.

Hôm đó, chỉ có mỗi tôi và ông Lưu trực chiến ở nhà ông Rạng. Xe cấp cứu đỗ ở đầu ngõ, bác sĩ và lái xe đeo khẩu trang kín mít đẩy xác bà Tâm vào nhà. Mặc dù bà Tâm đã chết, nhưng họ vẫn đeo mặt nạ thở ôxi.

Đưa xác bà Tâm vào nhà, bác sĩ tháo mặt nạ, rồi bỏ đi. Lúc đó, nhìn cảnh giữa sân rộng rãi, chẳng có ai, tôi hãi quá, nên cũng bỏ về, mặc kệ ông Lưu. Nhà họ Trần còn đông người, con cháu bà Tâm cũng đông, mà chẳng ai dám đến, thì tôi hà cớ gì phải ở lại. Nói thì nói vậy, nhưng quả thực tôi sợ ở đó thì mình cũng bị vật ngay thôi.

Tôi về nhà một lúc thì ông Lưu chạy sang nhà tôi, đề nghị tôi sang trông nom xác bà Tâm cùng ông ấy. Tuy nhiên, tôi từ chối, tôi bảo trông nom hương khói cho bà Tâm không phải trách nhiệm của tôi, bà Tâm là con dâu họ Trần, chẳng có liên quan gì đến tôi cả. Con cháu bà ấy còn sống, thì chúng nó phải có trách nhiệm lo lắng chứ, sao lại tìm tôi.

Nghe tôi nói vậy, ông ấy bỏ về. Đến 9 giờ tối, ông ấy lại mò sang tìm tôi. Ông Lưu bảo, có mỗi mình ông, ông sợ quá, nên nhờ tôi sang giúp. Tuy nhiên, tôi cũng sợ, nên nhất định không sang.

Nhờ vả không được, ông Lưu đứng ở cổng chửi bới. Ông bảo, tao còn mỗi cái xác già, sợ đếch gì. Thánh thần có bắt tao thì cứ trói tao vào mà đánh, đánh chết thì tôi. Chửi đổng mấy câu rồi ông ấy về. Cả đêm hôm ấy, có mỗi xác bà Tâm đắp chiếu và ông Lưu trong nhà ông Rạng. Ông Lưu cứ sang thắp hương cho bà Tâm, rồi lại bỏ về nhà mình”.

Ngoi nha chet choc bi an o Thai Binh: Cai chet cuoi cung khep lai chuoi bi kich hinh anh 4

 Đám tang bà Tâm chỉ có cán bộ xã.

Ông Bùi Văn Nghĩa, Phó Chủ tịch UBND xã Vũ Tây nhớ lại: “Sau cái chết của bà Tâm, thì quả thực dân làng vô cùng hoang mang. Con cháu cũng không dám đến làm tang ma cho bà Tâm. Thấy tình hình căng thẳng, và lại quá tủi phận cho bà Tâm, nên anh Bùi Văn Vượng, khi đó là Chủ tịch UBND xã, đã chỉ thị cho đóng cửa UBND xã, không làm việc nữa, và yêu cầu tất cả cán bộ, nhân viên của xã phải đến nhà ông Trần Văn Rạng làm tang lễ, đưa bà Tâm ra cánh đồng.

Khi đó, lòng dân hoang mang, đồn đại dị đoan ghê lắm, nếu chúng tôi không bạo gan đứng ra làm việc đó, thì làm sao nói được dân chúng, với lại lấy ai làm tang ma cho bà Tâm. Nói thật, khi đó anh chị em cán bộ xã cũng run lắm, nhưng đây không chỉ là góc độ tình cảm, mà còn là nhiệm vụ chính trị, nên không ai được lảng tránh”.

Cái chết của trưởng thôn và ông Lưu

Ngay phía sau nhà ông Rạng, là ngôi nhà nhỏ, nơi bà Nguyễn Thị Đào cư ngụ. Bà Đào là vợ ông Trần Văn Lưu (vợ ông Lưu trùng họ tên với vợ ông Rạng). Bà Đào dáng người nhỏ nhắn, khuôn mặt khắc khổ, nhưng lại rất can đảm.

Bà Đào là vợ thứ 2 của ông Lưu. Quê bà ở xã bên. Ông Lưu là chú ông Rạng. Vợ ông Lưu mất từ năm 50 tuổi. Chồng bà Đào thì bỏ vào Nam lấy vợ khác. Cùng cảnh ngộ đơn thân, nên bà Đào về làm dâu họ Trần. Mặc dù mới 60 tuổi, song bà Đào có địa vị cao trong dòng họ Trần ở làng.

Theo lời bà Đào, làm tang lễ cho bà Tâm xong, ông Lưu đi cúng bái gớm lắm. Khi đó, chỉ có mỗi ông Lưu hương khói, chăm lo cho bàn thờ gia đình ông Rạng và hương khói ở hai ngôi miếu. Ngày rằm, ngày giỗ, ông cúng 3 bát cơm ở miếu. Cúng xong, ông đổ một bát cho con vịt ăn. Con vịt này đẻ một đống trứng ở gốc cây. Sau thì nó làm ổ và ở luôn trong hầm của ngôi miếu. Chính vì thế, chẳng ai dám động vào con vịt này.

Bào Đào kể: “Hồi gia đình ông Rạng chết hết, ông Lưu vẫn dẫn một bà thầy cúng đến. Bà này thấy có tới 11 bát hương, nên lắc đầu bảo thờ thế này không được. Ngày đó, gia đình sợ hãi, lại lắm thầy nhiều ma, nên cứ bốc bát hương bừa bãi đặt vào miếu, thờ đủ các thần thánh.

Bà này bảo, có tới 11 bát hương thì biết cúng ông thần nào, chỉ nên thờ Thổ Địa và long mạch thôi. Bà này thắp hương, cúng bái nói rằng “Vị nào không nằm trong phạm vi thờ cúng thì tôi mời đi chỗ mát mẻ (giải mát, thả xuống sông)”.

Xin xong, bà này gieo âm dương được ngay. Cứ mỗi lần gieo âm dương được, thì hạ xuống 1 bát hương. 9 lần gieo, được cả 9, nên hạ 9 bát xuống. Tuy nhiên, khi còn lại 2 bát, thì gieo tới 20 lần không được. Lần gieo thứ 20, bát hương bốc cháy đùng đùng. Sợ quá, nên bà thầy cúng này phải để lại 2 bát”.

Theo lời bà Đào, ông Lưu đã đi xem bói ở nhà một ông ở huyện Đông Hưng. Ông thầy này phán rằng, cái chết của bà Tâm chưa phải đã chấm hết, mà người chủ sẽ là người cuối cùng bị vật. Ông thầy bói này ám chỉ “người chủ” chính là ông Lưu, người đứng đầu họ Trần, là chú ruột ông Rạng, cũng là người thay mặt ông Rạng đứng ra làm chủ, lo lắng mọi việc cho con cháu ông Rạng.

Chẳng hiểu lời ông thầy bói đó có đúng không, nhưng 2 năm sau khi bà Tâm mất, ông Lưu cũng ra đi vì bạo bệnh. Mặc dù ông Lưu qua đời vì bệnh tật, tuổi già, nhưng bà Đào cũng như dân làng nơi đây, đều liên hệ cái chết của ông với câu chuyện đầy bi kịch nhà ông Rạng.

Còn một cái chết cũng bị đồn đại rùng rợn nữa, là cái chết của ông trưởng thôn Phạm Văn Đức.

Vào năm 2010, sau khi kiểm tra các cháu tập dượt cho ngày lễ Trung thu, khoảng 9 giờ tối, ông Đức lên giường ngủ ngay. Sáng hôm sau, không thấy dậy, vợ gọi, thì ông đã chết tự lúc nào, miệng chảy ra máu.

Trước đây, ông Đức là người uống rượu say, cầm gậy xua đuổi thầy cúng ở nhà ông Rạng, nên người dân đã liên hệ cái chết bất đắc kỳ tử của ông Đức với chuyện “thánh vật” ở nhà ông Rạng.

Theo lời ông Thung, ông Đức là người tốt, nhiệt tình trong công tác và được nhân dân quý mến. Hành động xua đuổi thầy cúng khi đó là do ông say rượu, chứ không có ý đồ xấu gì cả.

Trao đổi với lãnh đạo xã, thì ông Đức vốn bị đau dạ dày nặng, lại hay uống rượu, nên ông qua đời vì chảy máu dạ dày, chứ chẳng có chuyện ma hành, thánh vật gì cả. Việc gắn cái chết của ông Đức với chuyện nhà ông Rạng là suy diễn vô căn cứ.

Tiện ích Bambu
Tin liên quan
Bạn cần tìm kiếm?
Advert Advert2 Advert3
TextLink
BAO LA VẠN SỰ

Mobile: 0913 290 384  /  Email: tranngockiem57@gmail.com hoặc tuvan@phuclaithanh.com

Copyright © 2014   BaoLaVanSu. Thiết kế và phát triển bởi Bambu®