tư vấn bao la vạn sự

Kỳ môn độn giáp

Kỳ môn xem việc

Cập nhật : 08/10/2014
Lấy cung Can ngày tới là Chủ mất. Can giờ tới là vật mất, đều lấy loài mà suy.

33.Xem mất vật.

Lấy cung Can ngày tới là Chủ mất. Can giờ tới là vật mất, đều lấy loài mà suy.

Thấy cung Can giờ được khí vượng tướng đến sinh Can ngày, lại được Phản ngâm thì được. Tới cung Không vong, Mộ, Tuyệt thì không được.

Kiền là khóa vàng, vật báu, khóa sắt, vật tròn, lại là mũ đội, là ngựa.

Khảm là thủy tinh trân châu, bút mực, lông tóc, vật nhỏ mềm, lại cũng là lợn.

Cấn là ngọc đá núi, đồ đá, vải che đèn, lại là trâu, chó, mèo.

Chấn là xe, thuyền, đồ mộc sắc biếc, vật may quần áo, lại là La, là Lừa.

Tốn là tơ lụa đoạn vải, vật mềm mại, lại là nhiều màu, vật nhỏ dài thành từng đôi.

Ly là văn minh, bản đồ, sách viết tay, ấn tín, quyển văn, chim nhiều màu, áo lông chim ấm. Lại là ngựa.

Khôn là đồng, sắt, khánh, trống, vật bằng kim khí rỗng lại có tiếng, ngà voi, là trâu dê.

Đoài là đồ trang sức bằng vàng bạc, có miệng lồng vào cổ tay. Lại là dê, gà, chim bay. Nếu thấy có khí là vật sống, không có khí là vật chết.

                                             34.Xem người nào lấy cắp.

Lấy Bồng đầu là chủ trộm. Có khí vượng tướng, lại được Kỳ môn, cách cát, là người sang trọng lấy trộm. Không có khí vượng tướng, không được Kỳ môn, cách cát thì bọn tiểu nhân làm trộm.

Cũng phối quái mà quyết. Kiền là ông già. Chấn là trưởng xã. Khảm là trai thứ mới lớn khỏe. Cấn là trai nhỏ tuổi còn bé. Khôn là bà già. Tốn là gái trưởng. Ly là gái nhỡ. Đoài là gái nhỏ. Ở trong là thân cận. Ở ngoài là kẻ khác.

                                             35.Xem bắt trộm cướp.

Đoạt người lấy của gọi là trộm đạo. Giết người cướp của gọi là tặc cướp.

Lấy Thiên bồng là đại tặc, Huyền vũ là tiểu tặc. Câu trận là người đi bắt trộm. Cửa Đỗ là phương bắt được. Đều lấy Thiên bàn làm chủ.

Cung Câu trận khắc cung Huyền vũ, Thiên bồng thì bắt được. Ví 2 cung Bồng, Huyền khắc cung Câu trận thì bọn trộm mạnh, người bắt không dám bắt. Cung Bồng Huyền và cung Câu trận tỷ hòa nhau thì người đi bắt trộm thông đồng với kẻ trộm. Cung Câu trận, Bồng Huyền cùng cung thì người đi bắt chính là trộm. Cung Bồng Huyền sinh cung Câu trận thì người đi bắt nhận hối lộ mà tha.

Đều lấy cách Canh lâm chủ. Gặp Niên cách thì trong năm bắt được. Gặp Nguyệt cách thì trong tháng bắt được. Nhật cách thì bắt được trong ngày. Thời cách thì trong giờ bắt được. Không cách thì không bắt được. Cửa Đỗ có cách cũng bắt được, không có cách thì không bắt được.

                                             36.Khơi tìm dòng nước.

Lấy cửa Khai là chủ. Cửa Khai có khí Vượng tướng, lại được ba Kỳ thì khơi dòng có ích, thuận lợi, không có hại. Nếu cửa Khai gặp Phản ngâm, vào Mộ thì không nên khơi. Ví lại gặp Thái bạch cách hung và Giáp Thìn Nhâm thì sau có hại lớn.

                                             37.Xem nước sông lên xuống.

Lấy Thiên Bồng, cửa Hưu mà quyết.

Cửa Hưu có khí Vượng Tướng mà được ba kỳ thì nước tuy dấy lên nhưng chưa đến nỗi tràn trề. Cửa Hưu có khí Vượng Tướng mà gặp cách Canh, chủ nước sông bị ủng tắc, dâng lên tràn trề. Lại có Giáp Thìn Nhâm, Đằng xà chủ nghiệt long vũ thủy (Rồng nghiệt đùa nước) làm hại.

Cửa Hưu rơi vào cung 2,5,8 Thủy bị Thổ khắc thì nước rút nhanh hoặc không có nước. Cửa Hưu không gặp cách Canh, với Giáp Thìn Nhâm thì nước tuy lên mạnh, nhưng không tràn bờ.

 38.Xem gieo trồng mùa lúa.

 Lấy 9 sao gặp cửa gì, lấy loại mà suy.

Gặp khí vượng tướng lại được ba Kỳ Cửa cát thì lấy: Cửa Khai Thiên tâm là lúa mỳ. Cửa Thương Thiên xung là lúa nếp hương. Cửa Đỗ Thiên Phụ là lúa nếp hạt to và tròn, lại là hoa bông vải. Cửa Cảnh  Thiên ương là kê. Cửa Hưu Thiên bồng là đậu. Cửa Tử Thiên nhuế là lúa kiều mạch, lại cũng là tỏi.

Các cửa, các sao được khí vượng tướng, có ba Kỳ cách cát thì thu được to. Được khí vượng tướng, không được Ba kỳ cách cát thì thu kém. Trong 9 sao có bị khắc hoặc Không vong, vào Mộ mà được cách hung thì hỏng, không nên trồng nữa.

                                             39.Xem mời khách.

Lấy Trực phù là khách, Thiên ất là chủ.

Cung có Thiên ất đến sinh cung có Trực phù thì tất là có đến. Can giờ sinh Can ngày cũng có đến. Sao Thiên bàn sinh sao Địa bàn cũng có đến. Trái thế thì không đến.

                                             . 40.Xem tuyển phi.

Lấy Trực phù là quan được sai. Can năm là Thiên tử, Thiên trụ là gái trinh.

Can ngày Niên Mệnh của gái trinh được Trực phù sinh thì quan được sai xét trúng tất được tuyển. Thiên trụ được Trực phù sinh cũng được tuyển.

Nếu cung của  Trực phù đến khắc cung Can Ngày Niên Mệnh của gái trinh hoặc cung mà Thiên trụ tới là thì không được tuyển.

                                             . 41.Xem sau khi được tuyển thì ra sao.

Lấy cung có Can Năm và cung Can Ngày Niên Mệnh của gái trinh đến hợp với cung Thiên trụ mà xem.

Cung Can Năm đến sinh cung Can Ngày Niên Mệnh của gái trinh, và cung Thiên trụ thì được Thiên tử vui mừng yêu mến.

Nếu cung Giáp Tý Mậu đến sinh Can Ngày Niên Mệnh và cung Thiên trụ thì rồi sau thành vương phi. Quý nhân khắc cung Niên Mệnh, Thiên trụ thì Thiên tử không vui, phải nên dãi bầy.

42.Xem dẫn người triều cận.

Lấy cung cửa Hưu, Can Năm, Can Ngày Niên Mệnh mà quyết.

Can năm là Thiên tử, Can Ngày là người dẫn triều kiến, Can Ngày Niên Mệnh được Can Năm đến sinh, lại có Ba kỳ cùng phù thì toàn tốt. (Can Năm sinh can Ngày là bề trên đã tin dùng người tiến cử, Can Năm sinh Can Niên Mệnh là bề trên gặp mặt đã thích người được tiến dẫn). (mọi việc cứ thế mà suy).

Lại có cung cửa Hưu được Kỳ Nghi tới thì dẫn đến Thiên tử tất vui mà được mến chuộng.

 Như Can Năm không đến sinh cung Can Ngày Niên Mệnh, cũng không khắc chế, mà cửa Hưu được Kỳ đến sinh cung Can Ngày Niên Mệnh cũng tốt. (Cửa Hưu là cửa tốt, lợi về việc yết kiến quý nhân, nay đến sinh Can ngày tất cuộc gặp đó được Quý nhân yêu mến).

Nếu Can Năm đến khắc Can Ngày Niên Mệnh, lại vào Không vong, Mộ, Phế, cùng là cửa Hưu không được Kỳ Nghi cách cát thì không lợi.

                                             43.Xem mồ mả.

Đất mồ mả là nơi người chết ở, lành thì được phúc, hung thì có họa. Bởi vì linh hồn tổ tiên ở nơi Suối vàng mà yên thì con cháu hưng vượng, không yên thì con cháu bại vong.

Nếu chưa táng mà xem trước thì phép này chuyên trách cứ vào cửa Tử và sao ở 2 bàn Thiên Địa mà quyết.

Lấy Sao Địa bàn ở cung cửa Tử là người chết, Sao thiên bàn ở cung cửa Tử là  người sống. Cung cửa tử có ba kỳ cùng với sao Địa bàn sinh nhau, hòa nhau, không khắc chế nhau thì người chết yên. Sao Địa bàn sinh sao Thiên bàn, sao Thiên bàn được Ba kỳ thì người còn người mất đều yên lành, sau rồi hưng vượng.

Ví cung cửa Tử cùng với sao Địa bàn cung khắc nhau thì người sống, người chết đều không yên. Sao Địa bàn khắc sao Thiên bàn, không có Kỳ môn hộ trì thì người sống người chết đều hung, cửa Tử phản ngâm thì rời đi nơi khác sẽ cát. Cửa Tử gặp Không vong thì đất không có khí, sơ nhà báu người chết.

Lại lấy Can gì, thần gì, cách gì mà suy. Được sao cát, can cát, sinh vượng thì cát. Thần hung, cách hung, can khắc chế thì hung.(Đây là nói sao Thiên bàn. Đáng ngờ là  nói sao của 2 bàn trên dưới. Vậy nên đợi gặp bậc cao minh mà hỏi).

                                             44.Xem sáu giống nuôi chạy mất.

La, lừa, thuyền  xe thì lấy cửa Thương làm chủ. Trâu dê thì lấy cửa Tử làm chủ. Xem đến nơi nào trên thiên bàn thì đi về phương ấy mà tìm. Ngựa thì lấy sao ở cung Kiền, Đoài làm chủ. Nếu được sao Thiên Bồng thì nên đi đến xứ gần nước mà tìm. Như có Huyền vũ là người lấy trộm đem đi. Ngày tìm được phải được cách Canh.

                                             45.Xem văn võ lên chức.

Phép lấy 2 cửa Khai, Đỗ làm chủ. Quan văn thì xem cửa Khai. Quan võ thì xem cửa Đỗ.

Hai cửa có Ba kỳ, lại được vượng tướng sinh nhau, sinh can Ngày Niên Mệnh thì tất được thăng chức. Thái tuế lâm sinh Can Ngày Niên Mệnh tất là có Thiên tử đặc chỉ. Trực phù lên sinh là Ty trên bảo cử. Nguyệt kiến đến sinh can Ngày Niên Mệnh và cửa Khai là bộ thân bảo cử. Cửa Khai lại được vượng tướng sinh nhau thì lên chức nhanh. Được cửa, không được Kỳ cũng thăng. Được Kỳ, không được Cửa thì chỉ được gia hàn chứ không được thăng.

                                             46.Xem giáng chức.

Cửa Khai bị khắc, quan văn giáng chức. Cửa Đỗ bị khắc, quan võ giáng chức. Phản ngâm thì chuyển đi nhận nơi khác. Không vong thì tất bị cách chức. Vào Mộ không những bị giáng phạt mà còn bị tội lỗi nữa.Thái tuế đến khắc thì Thiên tử không vui. Trực phù đến khắc thì Ty trên bắt tội. Can Tháng đến khắc thì bộ thần bắt tội.

 Như thấy Huyễn vũ là án trộm cắp. Bạch hổ là án mạng. Chu tước là Ấn tín. Đằng xà là chịu trách phạt. Thái âm thì bãi chức. Lục hợp, Câu trận là bị bắt.

Nếu 2 cửa Khai Đỗ vượng tướng sinh nhau với cung, hoặc được Ba kỳ, cách cát thì tuy có bị bắt bẻ mà không ngại.

                                             47.Xem cầu quan.

Lấy cung cửa Khai và cung Can Ngày Niên Mệnh mà quyết.

Cung cửa Khai sinh cung Can Ngày Niên Mệnh, lại được ba Kỳ, cửa cát, cách cát thì được quan phải nhanh. Không được Ba kỳ, cửa cát, cách cát thì được quan chậm. Gặp Phản ngâm thì không được.

48.Xem đi nhận chức phương nào.

 

Lấy thiên bàn cửa Khai tới cung mà quyết. Cửa Khai tới 4 cung trong thì gần, tới 4 cung ngoài tất đi xa. Độn dương từ Khảm đến Tốn là trong, từ Ly đến Kiền là ngoài. Độn Âm thì ngược lại.

Lại lấy Can ở địa bàn mà chia ra thành 9 châu: Giáp là Tề, Ất là Đông di, Bính là Sở, Đinh là Nam man, Mậu là Hàn Ngụy, Kỷ là Trung Châu, Canh là Tần, Tân là Tấn, Nhâm là Yên, Quý là Bắc dịch.

Tý là Tề, Sửu là Ngô, Việt. Dần là Yên. Mão là Tống. Thìn là Trịnh, Hàm đan. Tỵ là Sở. Ngọ là Chu. Mùi là Tần. Thân là Tấn. Dậu là Triệu. Tuất là Lỗ. Hợi là Vệ.

Thấy Huyền vũ thì dân ấy nhiều trộm cắp. Thấy Bạch hổ chủ hay đánh nhau gây thương tích. Thấy Chu tước thì hay kiện cáo. Thấy Đằng xà thì nhiều điều quái lạ. Thấy Thái âm thì hay gian dâm.

Thiên ẤT, Thanh long, Lục hợp là nơi có lễ nghi, phong tục tốt. Câu trận thì lắm tranh nhau về đất cát.

                                             49.Xem  đồng sinh thi.

Lấy sao Thiên phụ là quan hỏi thi, Kỳ Đinh là văn chương. Can ngày là đồng sinh.

Kỳ Đinh có Cửa (Môn) đến sinh Can Ngày Niên Mệnh, hợp môn cát, cách cát mà được Thiên phụ đến sinh tất đậu cao. Hoặc Can Ngày Niên Mệnh, Kỳ Đinh hợp Môn cát, cách cát, không được Thiên phụ đến sinh cũng được đậu. Kỳ Đinh, can ngày Niên Mệnh không được Môn cát, cách cát mà có Thiên phụ đến sinh thì là văn hiến thi ân, không vì văn chương hay dở mà cũng được lấy đậu.

Ví Phản ngâm, Phục ngâm, vào Mộ là có chép lại văn cũ, không được lấy đậu. Rơi vào Không vong thì văn làm chưa xong.

Kinh Thương 2 cửa là quyển văn bị cắt xén. Cửa hưu có thần hung, cách hung xung khắc can ngày Niên Mệnh thì là văn chương có tẩy xóa nhem nhuốc.

50.Xem thi tuế khảo.

Lấy sao thiên phụ là quan trường, Can Ngày là trò đi thi. Kỳ Đinh là văn chương.

Thấy Thiên phụ đến sinh Kỳ Đinh và Can ngày Niên Mệnh, lại hợp Kỳ Nghi cách cát, có 3 cửa cát thì tất là rất cát, đỗ đầu. Như Kỳ Đinh, Can Ngày Niên Mệnh  tới cửa Cảnh thì đậu thứ nhì. Được Môn không được Kỳ, được Kỳ mà không có Môn, hoặc cùng Thiên phụ tỷ hòa thì đậu thứ 3.

Như Kỳ Đinh gặp cung Không vong, Can Ngày Niên Mệnh lại gặp thần hung, cách hung thì đậu thứ tư.

Nếu bị Thiên phụ đến khắc thì rớt.

                                             51.Xem khoa cử.

Lấy Trực phù là quan chánh chủ khảo. Can tháng là phó chủ khảo. Thiên Ất, Chu tước là văn chương, là quan trong rèm. Cửa Cảnh, Kỳ Đinh Can Ngày là sĩ tử.

Lấy cung Trực phù sinh cung Can ngày là cung cửa Cảnh, Kỳ Đinh, lại hợp thành cách cát thì chắc đậu cao. Can tháng đến sinh cũng vậy. Chu tước đến sinh Cửa Cảnh, Kỳ Đinh thì quan trong rèm gắng tiến, không sinh thì không tiến.

Cung cửa Cảnh, Kỳ Đinh khắc cung  Trực phù, Can tháng thì quyển văn tuy hay mà chủ khảo không ưa. Khắc cung Chu tước thì không tiến. Gặp cách hung thì văn chương lạc đề, gặp Không vong, vào mộ thì phạm trường quy. Gặp Huyền vũ thì lời văn ngoa ngoắt sai lạc, không trúng. Can Ngày gặp cung Không vong, được Trực phù, can tháng đến sinh thì văn chương tuy hay mà trên bảng không tên. Trực phù, Can Ngày, Chu tước tới Không vong thì quyển văn không vào mắt chủ khảo, vào Mộ cũng không trúng. Sau trường thấy 2 ngựa Thiên mã, Dịch mã  và Thái xung thì không trúng, cần gì đợi xem bảng.

                                             Xem thi đình

Lấy cửa Cảnh, Kỳ Đinh là văn chương.

Như cung can Năm đến sinh cung cửa Cảnh, Kỳ Đinh, lại được Kỳ môn cách cát tất trúng đỉnh giáp. Cung Can Năm sinh cung cửa Cảnh, kỳ Đinh, không được Kỳ môn cách cát thì trúng nhị giáp. Cung can Năm không sinh cung cửa Cảnh, kỳ Đinh, mà cửa kỳ này lại vượng tướng thì trúng tam giáp. Cung can năm không sinh cung cửa Cảnh, kỳ Đinh, lại Phản ngâm, vào Mộ thì không trúng. Hoặc khắc cung can Năm, lại có thần hung thì không những không trúng lại còn bị tội nữa.

                                             53.Xem khoa thi võ.

Lấy sao Thiên xung là quan giám thí. Lấy Can Ngày là người đi thi. Giáp Tuất Kỷ là cái cung. Giáp Thân Canh là mũi tên, cửa Cảnh là văn bài. Cửa Thương là ngựa.

Giáp Tuất Kỷ, Giáp Thân Canh cửa Thương đều tới cung vượng tướng, cùng can Ngày cùng sinh nhau thì trường ngoài thi hợp, khắc nhau thì trường ngoài trở cách.

Lại lấy Giáp Ngọ Tân là hồng tâm, Canh trên cung Tân thì tên bắn trúng hồng tâm. Canh tới Cấn Kiền thì tên bắn trúng 4 góc. Tới Tốn Chấn Khôn Đoài thì tên bắn trúng hai bên. Tới Không vong thì tên bắn không trúng. Canh tới cung gần kể như không trúng. Niên Mệnh Can Ngày được Thiên xung đến sinh lại kiêm cửa Cảnh Kỳ Nghi có cách cát thì bắn trúng, trái thế thì không trúng.

Vũ đồng (trẻ nhỏ thi võ) cũng phỏng thế.

Văn Hán

Văn Dịch

Chiêm nhân sinh quý tiện

Xem kiếp người sang hèn

Kỳ pháp tiên minh

Phép này trước xét rõ

Đối cửu lý nhất tố tâm

Đội chín giẵm một cầu tìm

Tiết khí siêu thần bát môn phối hợp cửu cung

Khí tiết thần siêu Tám môn phối với chín cung

Cửu cung yêu đới tam kỳ

Chín cung cần có ba kỳ

Niên Nguyệt Nhật Thời yêu vượng tướng

Năm tháng ngày giờ cần vượng tướng

Bát Môn cửu cung tu suy di

Tám cửa chín cung phải đối giờ

Ly cung đấu diện

Cung Ly đấu mặt

Kiền Cấn lưỡng túc

Kiền Cấn hai chân

Kiền Nhĩ Tả thủ : Khôn

Vai, Tai , tay tả : Khôn

Tốn, Chấn tại hữu thủ cân

Tốn, chấn là tay hữu, gân

Khảm vi âm thận

Khảm là âm thận

Trung vi tâm phúc

Giữa: bụng, long, phân

Niên can phụ mẫu, Nguyệt can Huynh đệ, Nhật can bản thân, Thời can thuộc Nhi

Can năm cha mẹ, Can tháng anh em đó, Can ngày thân ta, Can giờ con nhỏ tìm.

Suy cập thê thiếp, đấn khán Ất Đinh chi lạc cung

Suy tới vợ cùng thê thiếp, xem nơi Ất Đinh tọa lạc cung

Canh vi phụ định bất di

Canh là chồng phép không sai lệch

Yếu tường tê kỳ cường nhược, tức năng quyết kỳ vinh khô

Xét mạnh yếu  mà định bổng chìm, tức biết sang hèn.

Vượng tướng đắc kỳ, thả phú thả quá

Vượng tướng thêm Kỳ vừa sang vừa có

Tử Tù Mộ Tuyệt cực tiện cực ban

Tử Tù Mộ Tuyệt vừa khó lẫn hèn

Cách cục yêu phân kinh trọng

Cách cục chia ra năng nhẹ

Mệnh vận nghiệm kỳ đắc thất

Mệnh vận nghiệm ở mất còn.

Vị bô cục tiền khán Cô Hư

Chưa bày cục, trước xét Cô Hư

Vượng tướng tức khai khẩu tất biện

Vượng tướng thì mở miệng rộng bàn

Thiên địa thừa thời Thái Bạch nhập Kiền Khôn, phụ mậu tảo niên luân một.

Ngẫm theo trời đất: Thái Bạch tới Kiền Khôn , Cha Mẹ tuổi thơ khuất bóng

Như nhược lâm huynh đệ cung vị, thủ túc cánh thi thủ địch

Nếu lâm cung huynh đệ, tay chân lục đục thù ghen.

Nhật Kỳ bị Hình ,Trang Sinh ta thán

Nhật kỳ bị Hình, thầy Trang than thở

Thời trang phùng chí Đặng Thông cô nhi

Can giờ gặp phải Đặng Thông không con

Sinh Môn sản nghiệp

Cửa sinh sản nghiệp

Yếu đắc Môn Kỳ

Môn Kỳ phải cần

Thành bại phân ư nội ngoại

Trong ngoài chia phần thành bại

Sinh khắc quyết kỳ đắc thất

Sinh khắc là lẽ mất còn

Sinh Môn Thái Bạch phùng sung hãm, bôi to ly hương chi khách.

Cửa Sinh Thái Bạch hãm cung, xa tổ ly hương làm khách

Bị cung khắc phục tận phụ tận tỏ phụ cựu viên

Ví lại thấy bị xung bị khắc: ruộng vườn tiên tổ bán sạch trơn.

Sinh tại ngoại nhi thân tại nội, tất thiên cư nhi phát phú.

Sinh ở ngoài mà thân ở trong, rời tổ ra ngoài mà giàu có

Thân tại ngoại nhi thân tại nội, túng hữu tổ nghiệp việc nan dong

Thân ở ngoài mà sinh ở trong, của cha mẹ để lại chắp chân bon

Thân sinh nhị cung câu tại nội an hưởng Lộc Mã

Thân sinh hai cung đều ở trong, an hưởng ngựa xe tớ thầy phúc ấm

Thân sinh cầu tại ngoại cung viên phương sáng lập chi thân

Thân sinh hai cung ngoài đóng, phương xa gây dựng làm nên

Nhật Trực Cô thời trực Hư thiếu niên vô ý

Ngày gặp Cô giờ gặp Hư tuổi trẻ không nơi nương tựa

Thời lạc Cô nhật lạc Hư lão hậu quan độc

Giờ gặp Cô ngày gặp Hư về già góa bụa chon von

Mệnh bị xung khắc khất thực đạo lộ

Mệnh bị khắc xung, ăn mày đường phố

Nhật lâm Tuyệt Mộ nan thích sầu my

Ngày vào Tuyệt Mộ khó tránh mày nhăn

Tai vượng sinh quan, cái nhân “Phi điểu điệt huyệt”

Tài vượng sinh quan vì được cánh chim bay về tổ ấm

Ngao đầu độc lập, tất đắc “thanh Long phản thủ”

Ngao đầu đứng riêng, bởi được phương Rồng xanh ngoái cổ lên

Thiên Phụ vượng tướng, đắc Kỳ Môn, văn minh hàn uyển

Thiên Phụ vượng tướng, được Kỳ Môn, vườn Hàn rạng rỡ.

Thiên Xung vượng tướng đắc Kỳ Nghi, uy chấn biên cương

Thiên Xung vượng tướng được Kỳ Nghi, oai chấn ngoài biên

Thiên Cầm vị chấn trung cung, đắc Kỳ Môn bách quan nguyên thủ

Thiên Cầm vị ở cung trung được Kỳ Môn tất trăm quan đầu sỏ

Ương tinh Hữu Bật hợp cát cách, đỉnh nại (             ) nguyên huân.

Sao Ương, Hữu Bật hợp cách cát, phải là công cả vượt trên

Thiên Trụ trực ngôn gián nghị

Thiên Trụ lời ngay, là quan gián nghị

Thiên Tâm nhập viện, y dược tôi lương

Thiên Tâm vào nội, thầy thuốc là quan

Nhậm vị Tả Phụ tư nông chi chức

Thiên Nhậm sao Tả Phụ, giữ chức khuyến ruộng vườn

Thiên Nhuế bất khả đắc địa, phùng Kỳ Môn, tao Đống chi lưu

Sao Thiên Nhuế mà không đắc địa, gặp Kỳ Môn là phường họ Đổng phong lưu

Bồng tinh vị chấn Bắc viên, đắc Kỳ Môn bạn quân chi tặc

Sao Thiên Bồng giữ ngôi phương Bắc, được Kỳ Môn giết chúa là tên

Khai môn hữu kỳ, ứng chi văn chức

Cửa Khai có Kỳ, giữ chức quan văn

Thương môn đắc lệnh, định hệ hổ thần

Cửa Thương được lệnh, hổ tướng ngồi trên.

Sinh môn đắc Kỳ, Thạch Sùng phú túc

Cửa Sinh gặp Kỳ, Thạch sùng giầu có

Cảnh môn hợp cục, Đan Thiên văn minh

Cửa Cảnh hợp cục, vẻ sáng Đan Thiên

Kinh môn hợp thức, hiếu biện chi nhân

Cửa Kinh hợp thức, người chuyên miệng mép

Kiền cung vi Khai, bạch đầu xuất nhậm

Cung Kiền gặp Khai, tóc bạc mới làm quan

Tử môn đắc Kỳ

Cửa Tử gặp Kỳ

Chức tại ty Hình

Làm quan nơi Hình bộ

Phân bổ Bát Môn tinh thần

Chia bảy tám Môn tinh thần

Kỳ Nghi hợp cục giả, hào phú hào quý

Kỳ Nghi hợp cục, vừa phú vừa quý

Thất cục giả, hạ đẳng bình quân

Không thành cục, bọn thấp dân đen

Khai môn Tâm tinh giai thị Kim tiêu, hữu khí y bốc tinh tường. Nhược trự Tử Tù thủ nghệ tân can.

Cửa Khai sao Tâm đều Kim: có khí thì bói giỏi thuốc hay. Gặp Tử Tù công nghệ chân tay khó nhọc

Hưu môn Thiên Bồng đồng nhất Thuỷ tiêu, hữu khí, bính mậu lại dịch. Trực Tử Tù quân ngọ tặc nhân.

Cửa Hưu Thiên Bồng cùng Thủy có khí lính cơ thầy lại. Gặp Tử Tù là phường giặc giã binh quèn.

Sinh môn Thiên Nhậm thị Thổ tú, đắc địa giả, điền địa phú túc. Nhược thất thời, đồng công nông vận

Cửa sinh Thiên Nhậm là Sao Thổ, đắc địa thì lắm ruộng nhiều vườn; không gặp đất cày sâu vác nặng.

Thương môn Thiên Xung giai vị Mộc tiêu, hữu khí bính lịch chi thủ, Trực Từ Tù : mã hậu tương bôn

Cửa Thương Thiên Xung đều Mộc cả, có khí thì thầy cai ngài đội; gặp Tử Tù: hầu ngựa chân quen.

Đỗ môn Thiên Phụ diệc thị Mộc tiêu, hữu khí mãi thị hàn nho; Trực Mộ Tuyệt tăng sơn đạo lâm

Cửa Đỗ Thiên Phụ đều là Mộc. có khí thì lạnh lẽo đồ nho, gặp Mộ Tuyệt thầy tăng thầy đạo.

Cảnh môn Thiên Ương thị Hỏa tiêu, hữu khí hành hành uy liệt chi biểu, toàn thất cục trị bạo lực chi nhân

Cửa Cảnh Thiên Ương đều thuộc Hỏa, có khí thì đường đường oai vệ. Không thành cục thì gánh vác nhọc nhằn.

Tử môn Thiên Nhuế giai thị Thổ tiêu, hữu khí Triệu Ngụy gia trưởng; trực Mộ Không cơ cùng chi nhân

Cửa Tử Thiên Nhuế đều là Thổ, có khí thì Triệu Ngụy đàn anh; gặp Không Mộ mỏng manh kiệt quệ

Kinh môn Thiên Trụ…………

Cửa Kinh Thiên Trụ…………..

………………….

………………….

Bát môn biện biệt vượng tướng, tái luận cửu tinh

Tám cửa đã xem vượng tướng, chín sao nay phải đem bàn:

Đắc Thiên Bồng tinh thấu thời, biện cương chi tướng; thất địa lại quân tốt cực nhân

Được Thiên Bồng gặp thời lệnh, tất làm tướng trấn biên cương; thất địa lại là quân là giặc

Thiên Nhậm đắc địa, Điền thổ lộc mã chi phú; thụ khắc: nông nô tân khổ chi nhân

Thiên Nhậm mà gặp thời, ruộng vườn xe ngựa giàu có; ví bị khắc: cày cuốc khó khăn

Thiên Xung hữu khí giả vũ quý, bối thời xa thuyền giang hồ chi lưu

Thiên Xung có khí, võ nên sang; trái thế: thuyền ngựa sông hồ trôi chảy.

Thiên Phụ vi tả khu, đắc chí giả văn nhã sĩ hoạn, thất địa lợi cùng tạo họa công

Thiên Phụ là tả khu, gặp thời thì văn hay nhẹ bước; thất thời thì thầy tu, thợ vẽ bon chen.

Thiên Ương hỏa tỵ nam Ly, thừa quyền giả tất chủ văn minh, bội thời giả cham bạo hôn dong

Thiên Ương là hỏa phía Nam Ly, được lệnh thì chủ văn minh, không được thời thì bạo tàn ngu tối

Thiên Nhuế bài thị hắc tinh, đắc thiên thời tính ác bá đạo, thất thiên thời mục lị dong công.

Thiên Nhuế vốn là sao đen, gặp được thời thì là ác bá, không gặp được thời thì đày tớ lầm than.

Thiên Trụ vị chấn Tây viên, hữu khí giả thiệt biện đượng thế; bị xung khác tu kỹ nhạc công

Thiên Trụ phương Tây ngôi Chấn, có khí thì miệng lưỡi nhạo trời , không được khí phường chèo thợ nhạc.

Thiên Tâm nguyên tại Thái Bạch, đắc địa giả tài hoa quốc trụ, nhược Không, Mộ cửu lưu tương tầm

Thiên Tâm nguyên là Thái Bạch, gặp được thời tài hoa cột trụ nước. Ví Không Mộ lưu lạc khắp chốn.

Thanh Long phản thủ, ngao đầu độc chiếm

Rồng Xanh ngoái cổ, đầu ngao độc chiếm

Phi điểu diệt huyệt, ca phú nhi thành danh

Chim bay về tổ, giầu có nổi tên

Thanh Long đắc quang, ấp trưởng huyện lệnh

Rồng xanh được sáng, huyện quan, xã trưởng.

Đinh giả Mậu phú gia chi danh

Sáu Đinh trên Mậu giàu có tiếng tăm.

Bạch Hổ xướng cuồng, hung ngoan chi bối

Hổ trắng gào cuồng, phường ngu bọn ác

Thanh Long đào tẩu, nhu nhược chi nhân

Rồng xanh chạy trốn, hèn yếu tồi tàn.

Cánh chủ nhân thê thành bại

Vốn đã bại, thành vì vợ

Nhi chủ tả bói là thân

Còn mình dựa dẫm nhàn thân

Chu Tước đầu giang, đao bút thư lại

Sẻ đỏ lao sông, bút đao thấy lại

Đằng Xà yêu kiều, độc tàn tiểu nhân

Rắn bay uốn éo, lòng dạ độc thâm

Thất thời giả mục manh nhĩ quý

Không gặp thời mắt mờ tai điếc

Thừa khí giả, hỏa phấn thương thân

Khí mà nhiều, lửa đốt thương thân

Thái Bạch nhập Huỳnh-hoặc giả tiến, chủ tiền bận hậu phú, Huỳnh-hoặc nhập Thái Bạch giả thoái, chủ gia nghiệp tiêu điều

Thái Bạch vào Huỳnh-hoặc là lên, hẳn phải trước nghèo sau giàu có; Huỳnh-hoặc vào Thái Bạch là xuống, chắc là nhà cửa tiêu tàn.

Thiên Ất Thái Bạch, Thái Bạch Thiên Ất, đa thành đa bại

Thiên Ất Thái Bạch, Thái Bạch Thiên Ất, nhiều thành nhiều bại

Thái Bạch đồng cung, huynh đệ lôi phân

Thái Bạch cùng cung, sét đánh anh em.

Thái Bạch Bồng Tinh, thê thất thường bệnh

Thái Bạch Bồng Tinh, vợ thường bị bệnh

Bồng Tinh Thái Bạch, duy bạc thanh xú

Bồng Tinh Thái Bạch rèm mỏng xấu tên

Đại cách giả, bình tích tứ hải

Cách Đại thì cánh bèo bốn biển

Tiểu cách giả, tạm thời thanh bần

Cách Tiểu thì lắm lúc nghèo hèn

Niên Nguyệt Nhật Thời cá cách, tức…lục thân nhi suy khứ

Năm tháng Ngày giờ cách ấy, tức lấy sáu thân mà suy xem.

Khán thị hà cung trắc nghiệm

Xem thấy ở cung nào mà lường nghiệm

Nhi vi bội lệ vô lẽ tương tòng

Biết rằng sai trái không theo lẽ bên

Suy cập phụ mẫu, huynh đệ, thê tử. hiến thủ khả dĩ tường minh.

Suy đến vợ con, anh em , cha mẹ. hơn chăng có thể biết hay liền

Tân vi  thiên ngục, Nhâm vi địa lao

Tân là ngục trời, Nhâm là lao đất

Chủ là hạ chi phạm, cánh chủ uất ức nan thân

Ngôi thì thấp kém , ức ngậm nan ngâm

Quý vi Thiên cương, tu khán cao đô

Quý là lưới trời, nên xem cao thấp

Cao giả hóa vi hoa cái, khả suy quý cách

Cao ấy hóa là lọng hoa, suy ra cách quý.

Đệ giá Thiên cương triền thân tịch tịch cơ hàn

Thấp ấy lưới trời bó thân lạnh lẽo nghèo hèn.

Pha kỵ Ngọc nữ thủ môn

Cung kỵ Ngọc Nữ thủ môn cách ấy

Thê tùy nhân hành

Vợ theo người khác đi

Ất Đinh thê thiếp khán thị thùy sơ

Ất Đinh thê thiếp, xét thân sơ xa gần

Ất kỳ nhập Mộ, thê bất sinh tử

Kỳ Ất vào Mộ, vợ không con cái

Đinh Ất đồng cung, biệt tục tương thân

Ất Đinh đồng cung, cả lẽ thương bền.

Ất Kỳ tại thượng

Ngữa lên thấy ấy

Thê thiếp hiệp hòa

Thê thiếp hòa hiệp

Đinh gia Ất thượng, tân hạnh phu tâm

Đinh trên có Ất, lòng chồng buồn vui.

Chư cách kỳ lạc không vong

Mọi cách kỵ gặp Không vong

Cát giả hàm xương, nhi khổ giả cánh khổ

Cát thì may mắn, mà khổ lại khổ thêm.

Nhược lâm Mộ Tuyệt chi địa, vô cáo cùng dân

Ví vào Mộ, Tuyệt: đáng mặt dân hèn

Bát môn suy lai, tôi phả phản ngâm

Tám môn suy tới, rất sợ phản ngâm.

Phục ngâm diệc thị hung thần

Phục ngâm đúng là hung thần.

Ngũ hành phối hợp

Năm hành phối hợp

Tư lý thụ hình

Ấy lẽ chịu hình.

Tại hồ nhất tâm dư bất tận ngôn đồng chí giả thúc chân.

Tại lý một lòng dư không nói hết, bạn đồng chí biết cho

 

 

 

Xem tớ trai gái đi mất

Tớ trai chuyên trách Thiên bàn cung Thiên Bồng, Tớ gái chuyên trách cung Thiên Nhuế trên Thiên bàn mà tìm thì tất gặp.

Ngày Dương lấy cung Bồng, Nhuế ở địa bàn mà quyết, gặp cách tất gặp. Không có cách thì không gặp. Ví nếu có Lục Hợp cùng theo, tất bị lừa dối đi.

 Hai thần vào Mộ khố, có người đem giấu khó tìm được. Nếu gặp Không Vong thì không tìm thấy.

Xem đi mất về phương nào 

Tiểu Nhi đi mất, độn dương thì ở phương Lục Hợp thiên bàn, độn âm thì ở phương Lục hợp địa bàn, lấy đấy mà quyết.

Nếu mất tớ gái, độn dương thì ở phương Thái Âm thiên bàn, độn âm thì ở phương Thái Âm địa bàn, lấy đấy mà định. Xét 2 thần ấy là biết người ở phương ấy rồi.

Ở Khảm, Cấn, Chấn, Tốn 4 cung là trong thì là gần. Tới Ly, Khôn, Đoài Kiền là ngoài thì là xa. Độn âm thì trái thế.

Nếu 2 thần tới cung Mộ của Can Ngày thì xa gần cũng khó tìm, tới cung Không-Vong , người ấy lại theo phương khác đi, sau thì lấy cung Thần can hợp mà tìm thì tất gặp.

Xem người đi, ở ngoài

Phép lấy can Ngày Niên Mệnh của người đó mà quyết

Can Ngày Niên Mệnh tới Khảm, Cấn, Chấn, Tốn độn dương là trong là gần; Tới Ly, Khôn, Đoài, Kiền là ngoài là xa, hợp lại mà quyết;  Niên mệnh tới 4 cung chính thì thật xa, tới Khôn Cấn lại cực xa.

Độn âm lấy Ly, Khôn, Đoài, Kiền là trong thì gần; lấy Khảm, Cấn, Chấn, Tốn là ngoài thì xa, hợp lại mà quyết. Niên mệnh tới 4 cung chính dưới thì thật xa. Can Ngày Niên Mệnh  đến Mộ, Phế, người ở ngoài không được như ý, không khỏe thì cũng bệnh. Nếu Can Ngày Niên Mệnh đến cung Mộ khố Không vong, lại thêm khí Tử Tuyệt thì người ấy không còn. Như Can ngày Niên Mệnh có khí vượng lại được Kỳ Môn, Cách Cát thì người đi ở ngoài phát tài như ý.

Xem người đi và kỳ về

Phép lấy Niên Mệnh của người đi, chuyên trách ở cách Canh. Ngày Dương lấy Can ở dưới Canh làm chủ. Ngày Âm lấy Can ở trên Canh mà định. Cách Niên thì một năm ấy sẽ về. Cách Nguyệt thì tháng ấy sẽ về. Cách Nhật thì ngày ấy sẽ về. Cách Thời thì giờ ấy sẽ về. Không có cách thì không về.

Thế nào gọi là không có cách? Ất Canh là hợp không là cách. Canh Kim vào Mộ hoặc gặp Không Vong là không có cách.

Xem  vay nợ

Phép này lấy sao Thiên Bàn ở phương đi đến là người đi vay, lại lấy sao Thiên Bàn chuyển đến sao Địa bàn, sao Địa bàn là nhà cho vay.

Sao Địa bàn sinh sao Thiên bàn thì được vay. Thấy tỷ hòa thì tuy có cho vay nhưng ngần ngại nghi ngờ. Thấy khắc nhau thì không được vay mà còn thêm nhục nữa. Nếu thấy Can ở Thiên bàn vào Mộ khố của Địa bàn thì hẳn keo kiệt không cho vay. Thấy vào cung Không Vong thì hẳn quả là không có, đi vay làm gì.

Xem đánh bệnh trừu phong (chim đả trừu phong)

Lấy cung Can ngày là người đi đánh bệnh.  Phương đi đến là xứ có trừu phong. Được Kỳ Môn cách cát sinh Can ngày thì đi là có lợi. Không được Kỳ Môn cách cát mà có đến sinh cũng lợi. Tỷ hòa thì bình bình. Khắc chế cung Can ngày thì đi sẽ bị tổn. Tới cung Không Vong, Mộ, Tuyệt thì không thấy, chỉ khó nhọc vô ích, đi làm gì?

Lời dẫn: chữ Trừu phong, từ điển Đào Duy Anh giải là một thứ bệnh giống bệnh kinh phong. Nếu nghĩa này mà đúng thì có thể đây là một thầy thuốc đi đánh gió, cạo gió gì đấy chăng ?

Xem vào yết quý nhân  

Nếu là Quý Nhân hiện đương nhậm quan thì lấy cung của Khai Thiên bàn làm chủ. Chưa đi nhậm hay đã trí sĩ thì thêm Giáp Tý Mậu thiên bàn. Lấy Can Ngày là người cầu vào yết.

Cửa Khai Giáp Tý Mậu có khí vượng tướng, lại được Kỳ Môn Bách Cát đến sinh cung Can Ngày thì đi yết tất gặp, gặp thì có ích, việc cầu như ý.

Cửa Khai Giáp Tý Mậu với Can Ngày tỷ hòa, cầu đến yết chỉ có chậm tý chút. Cửa Khai Giáp Tý Mậu cùng cung thì quý nhân có khách, phải đợi. Nếu cửa Khai Giáp Tý Mậu phản ngâm thì quý nhân đã ra đi, không gặp được. Cửa Khai Giáp Tý Mậu vào Mộ khố thì không gặp. Cửa Khai Giáp Tý Mậu bị chế thì quý nhân có việc lo lắng, không gặp được, có gặp cũng không ích. Cung cửa Khai Giáp Tý Mậu khắc cung Can Ngày thì quý nhân không vui, uổng gặp xấu hổ.

Nếu đến yết quan võ thì xem cửa Đỗ, cũng phỏng theo đây.

Xem sinh trai gái sống lâu

Lấy cung Thiên Bàn mà can giờ sinh tới, xem là cung nào, thần nào. Lấy Thiên Bồng là Thiên Tặc (giặc trời), Huyền Vũ là Du Sinh (sống nổi). Phạm 2 thần này, lại gặp giờ Hưu Phế không khí thì không nuôi được. Nếu có Kỳ Môn, cách cát, thần cát, lại có khí vượng tướng thì mệnh dài và phú quý 

Xem ngày sinh con

Lấy cung Khôn nhà đẻ. Thiên Nhuế là bà mẹ (đẻ). Được sao nào trên thiên bàn là tiểu nhi.

Thiên Nhuế khắc sao trên Thiên Bàn thì sinh mau. Sao Thiên Bàn sinh sao địa bàn Thiên Nhuế thì con luyến bụng mẹ mà đẻ chậm. Sao Thiên Bàn khắc sao Địa bàn thì mẹ hung. Sao Địa Bàn khắc sao Thiên Bàn thì con chết. Nếu có khí vượng tướng và Kỳ Môn, cách cát, thì mới cát. Như sao Thiên Bàn rơi vào Mộ khố địa bàn thì con chết trong bụng mẹ. Thiên Địa 2 Bàn có đều hung, cách hung thì mẹ và con đều hung cho là Thiên Địa 2 Bàn gặp khí Tử, Tuyệt mà thế.

Xem đòi nợ

Lấy cung Thiên Ất  tới là người thiếu nợ. Lấy cung Câu Trận tới là người đi đòi nợ.

Cung Câu Trận khắc cung Thiên ất thì người này thật lòng đi đòi nợ. Cung Thiên Ất khắc cung Câu Trận thì người này được sai đi đòi nợ sợ kẻ kia mà không dám đòi. Câu Trận và Thiên Ất sinh hòa nhau thì 2 người thông đồng mà không đòi. Câu Trận bị Thiên Ất sinh thì có phó thác hối lộ mà người sai không chịu đòi. Cung Thiên Ất có khí vượng tướng đến sinh Trực Phù thì tất trả nợ. Ví rơi vào Không Vong mà đến sinh Trực Phù (nên biết Trực Phù là người cho vay) thì có lòng mà sức không trả được. Cung Thiên bồng và cung Thiên Ất mà khắc chế cung Trực Phù thì yên tâm không trả nợ tất không thể đòi được (Bảng nguyên thiếu những dòng dịch ra viết chữ ngã trên đây)

Xem cho vay nợ 

Lấy Sáu Giáp Trực Phù là người cho vay, sau dưới Trực Phù là Thiên Ất tức là người vay nợ.

Nếu sao Địa Bàn có khí vượng tướng sinh sao thiên Bàn thì người vay tức trả nợ. Gặp cách hung khắc sao Thiên Bàn thì không chịu trả nợ. Rơi vào Không Vong thì chết cho nên không trả được nợ. Gặp cung Mộ Tuyệt thì vỡ nợ không trả (câu này nói về Can thuộc sao Địa Bàn ). 

Xem mua hàng

Lấy cung Can Ngày là người đi mua hàng. Lấy cung Can giờ là hàng.

Cung Can giờ có khí vượng tướng lại được Kỳ Môn cách cát thì hàng tốt. Gặp khí Hưu Tù không được Kỳ Môn cách cát thì hàng xấu hỏng. Cung Can giờ đến sinh cung Can ngày thì hàng không kể tốt xấu thì đều có lợi tức, đến khắc cung Can Ngày, hoặc gặp Mộ Tuyệt Không Vong thì hàng không có lợi thì mua thu làm gì. Ngoài ra lấy loại này mà suy.

Xem thai nam nữ

Phép lấy cung Khôn sao Thiên Nhuế làm mẹ. Lấy Thiên Bàn trên cung Khôn là thai tức sao Dương là thai nam, sao Âm là thai nữ. Duy Thiên Cầm tới thì sinh đôi. Can dương là nam, Can âm là nữ

 Xem trao hàng kiếm tiền (thoát hóa cầu tài)

Lấy Trực Phù Giáp Tý Mậu là Ta, Lấy Thiên Ất là người trao hàng. Lấy Lục Hợp là người mối.

Ví cung Thiên Ất có Kỳ Môn Cách cát đến sinh cung Trực Phù thì hàng ấy có thể trao; Tỷ Hòa thì trao cũng không ngại. Trái thế thì không trao được, mà trao thì mất.

Lại xem cung Lục Hợp thấy sinh cung Thiên Ất thì người trao hàng và người mối đều cát; sinh cung Trực Phù và cung Giáp Tý Mậu thì người mối và người trao hàng đồng lòng. Ví Lục Hợp vào Mộ hoặc rơi cung Không Vong thì chắc có sự gian trá dối trá, không thể trao hàng. 

Xem buôn bán lấy lời: (Thục hóa cầu tài)

Lấy cung Can Ngày là chủ hàng. Cung Can Giờ là hàng. Cung Giáp Tý Mậu là vốn. Cung Cửa Sinh là lợi tức.

Thấy cung Can ngày sinh cung Can giờ thì người tiếc hàng không chịu giao, Ví cung Can giờ sinh cung Can ngày thì hàng luyến người không trao được.

Lại xem cung Can giờ sinh cung Giáp Tý Mậu và cung cửa Sinh thì có lợi tức. Trái thế thì không có lợi tức.

Nếu cung Can giờ có Thần hung, cách hung đến xung khắc cung Can ngày thì có hao hụt.

Duy cung Can Ngày khắc cung Can giờ, tuy muốn trao hàng gấp mà vẫn mắc chậm. Cung Can giờ khắc cung Can ngày, bán ra tất nhanh. 

Xem mở quán hàng

Lấy Cửa Khai mà chủ.

Cửa Khai có khí vượng tướng, thêm Kỳ Môn cách cát đến sinh cung Can Ngày thì cát lắm. Thấy Tỷ hòa, không khắc chế thì cát vừa.

Ví cửa Khai vào Mộ hoặc Phản ngâm và rơi vào Không Vong thì không lợi.

Cung Cửa Khai có thần hung, cách hung đến xung khắc Can ngày, cũng không lợi.

Xem hợp nhau cầu tài

Lấy cung Can ngày là Ta. Cung Can giờ là kể của bọn.

Can giờ có Kỳ Môn cách cát đến sinh Can Ngày thì hợp tổ có ích cho ta. Can Ngày có Kỳ Môn, cách cát sinh Can giờ thì có ích cho người. Hai cung tỷ hòa thì hợp vốn công bình. Không ai sai suyến. Ví cung Can giờ có thần hung, cách hung đến khắc cung Can ngày thì không lợi.

Lại xem Cửa Sinh có sinh Ta, hay không sinh Ta mà suy ra trăm điều không sai một.

Xem đổi chác

Lấy Giáp Tý Mậu là vốn, Cửa Sinh là lợi tức.

Cung Cửa Sinh được Kỳ Môn cách cát đến sinh cung Giáp Tý Mậu thì được lời bội. Hai cung tỷ hòa cũng được lợi trung. Cửa Sinh đến khắc cung Giáp Tý Mậu lại có thần hung cách hung thì thiệt vốn. Cung Giáp Tý Mậu sinh cung Cửa sinh thì phải thêm vốn mới được lợi tức. Ví Cửa Sinh tới đến Mộ Tuyệt lại có thần hung, cách hung thì hao hụt hết vốn. Hung lắm.

Xem cầu tài

Lấy Giáp Tý Mậu là thần tài. Cửa Sinh là phương có tài. Xem Thiên bàn 2 cung tới phương nào. Lấy 2 phương ấy có sinh khắc tỷ hợp mà nghiệm được mất.

Thiên Bàn Giáp Tý Mậu với cửa Sinh tới 4 cung Khảm, Cấn, Chấn, Tốn độn dương là trong là gần, lại là nhanh, lại được Kỳ Môn, cách cát thì tất được nhiều. Ví được Môn không được Kỳ, được Kỳ không được Môn thì được không nhiều. Môn Kỳ đều không được, không rơi phải Không Vong, Mộ, Tuyệt, không bị địa bàn khắc chế thì được ít.

Hoặc Giáp Tý Mậu và cửa Sinh tới một ở trong, một ở ngoài thì được chậm. Hai cung đều ở ngoài thì cầu tài ở ngoài ngàn dặm. Hai cung rơi vào Không Vong, Phản ngâm, Mộ, Tuyệt, lại có thần hung, cách hung thêm vào thì không được tài.

Xem giao dịch

Lấy cung Can Ngày là Ta. Cung Can giờ là người. Lục Hợp là người mối

Can Ngày sinh Can giờ chủ mua chịu đặt. Can giờ sinh Can ngày nghiệp chủ ý muốn (nguyện ý). Can ngày khắc Can giờ, chủ mua không đằm thắm (bất yếu). Can giờ khắc Can ngày thì nghiệp chủ không bán.

Lục Hợp sinh Can ngày thì người mối về phe chủ mua. Sinh Can giờ thì về phe người bán.

Hai cung của 2 Can tỷ hòa nhau thì 2 nhà công bình, giao dịch thành. Hai can có một rơi vào Không Vong thì giao dịch không thành.

Xem mua nhà cửa

Lấy Trực Phù là chủ mua, Cửa Sinh là nhà trọ. Cửa Tử là đất cát.

Hai cửa Sinh Tử có 3 Kỳ cách cát, đến sinh cung Trực Phù thì mua rồi sẽ phát đạt. Hai cửa không được cách cát, đến sinh cung Trực Phù thì bán rồi sẽ phát đạt. Hai cửa không được cách cát, đến sinh cung Trực Phù thì trung cát, tỷ hòa bình an.

Hai Cửa gặp khí Hưu Phế lại có thần hung, cách hung đến khắc cung Trực Phù thì mua rồi sẽ phá bại gia tài. Trực Phù sinh 2 cửa này thì nhân mua nhà mà sinh lụn bại không lợi.

Xem người thọ yểu cát hung

Phép lấy 2 sao Xung, Trụ hợp cửa Tử xa gần mà định.

Nam thì lấy sao Thiên Xung khởi bầy thuận Kỳ Nghi. Nữ thì lấy sao Thiên Trụ khởi bầy nghịch Kỳ Nghi. Xem đến cửa Tử thì còn cách mấy cung. Mỗi cung là 10 năm. Khởi tính đến cửa Tử bao nhiêu là thọ bấy nhiêu số 10 năm tròn. Lại lấy 1 cung là 1 năm, xem lẻ bao nhiêu thì là số năm còn lẻ. Lấy 4 chính cung, mỗi cung chỉ là 1 cung. Duy 4 góc thì tính làm 2 cung. Vì rằng 4 cung góc có 8 chi. 

Xem Niên Mệnh cát hung

Lấy phương người lại hỏi, xem từ đâu, hợp với giờ đúng của Trời Đất (thiên địa chính thời) và phương của Niên Mệnh lại mà suy.

          Phương lại được Kỳ Môn, cách cát thì Niên Mệnh ấy tất cát. Cung Niên Mệnh hợp Kỳ Môn cách cát cũng cát. Phương Niên Mệnh cũng có Kỳ Môn cách cát, lại có khí vượng tướng tất có gặp may mắn hoạnh phát (phát mạnh). Vào Mộ khố địa bàn thì mờ mịt (hôn hôi). Rơi vào Không Vong thì trăm việc không thành. Vào cửa Tử thì chết; cửa Thương thì bệnh; cửa Kinh thì cãi cọ mang tiếng, kiện cáo; cửa Cảnh thì đổ máu, tai lửa; cửa Đỗ thì lo lắng; cửa Khai thì gặp người quý; cửa Hưu thì tiến đến yết người quý; cửa Sinh thì phát tài, có mừng.

          Đại để được Kỳ Môn thì cát, gặp của hung cùng khắc Niên Mệnh thì hung, không khắc thì có hung nhỏ.

Xem Nạp sủng (được yêu)

        Lấy Kỳ Ất là Thê, lấy Kỳ Đinh là Thiếp, Thái Bạch Canh Kim là chồng.

        Ví cung Ất, Đinh sinh cung Canh thì người gái chịu lấy chồng, Cung Ất Đinh khắc cung Canh thì không chịu lấy, Cung Ất Đinh hòa nhau, hợp nhau thì thiếp hòa hiệp. Như Ất khắc Đinh thì Thê không dung được Thiếp. Hoặc Đinh khắc Ất thì thiếp muốn đòi Thê.

        Ví cung Ất Đinh hãm trong cung Mộ Tuyệt thì không thể thành, thành cũng không lợi. Như Canh Kim sinh cung Kỳ Đinh thì có khó nhọc mà không thành.

Xem hôn nhân

Lấy Canh kim là nhà trai, Kỳ Ất là nhà gái, Lục Hợp là người mối.

Cung Canh sinh cung Ất thì nhà trai yêu nhà gái ? Cung Ất sinh cung Canh thì nhà gái yêu nhà trai. Được Kỳ Môn cách cát thì hôn nhân thành, tỷ hòa không khắc chế nhau cũng thành.

Ví cung Canh khắc cung Ất thì nhà trai hiềm nhà gái không thành. Cung Ất khắc cung Canh thì nhà gái hiềm nhà trai mà không thành. Nếu thành gượng thì sau có hình khắc.

Canh Kim vào Mộ có cách hung thì hình chồng, Kỳ Ất vào Mộ có cách hung thì hình thê.

Xem mưa

Lấy sao Thiên Cầm là chủ giữ mệnh (tư mệnh chi chủ) Thiên Trụ là Thầy mưa (Vũ sư). Thiên Xung là thần Sấm (lôi thần). Thiên Phụ là bác gió (Phong bá). Đằng Xà là chớp (điện quang). Thiên Bồng là thần nước (thủy thần). Giáp Thìn Nhâm là thần Rồng (long thần).

Thiên Cầm tới vượng tướng, Thiên Trụ, Giáp Thìn Nhâm quanh ở cung 1-3-7 hoặc dưới là Giáp Thìn Nhâm thì mưa to. Có tới Giáp Dần Quý, dưới có Giáp Dần Quý ở cung 1-3-7 đến thì mưa nhỏ. Giáp Thìn Nhâm tới cung Chấn là Rồng lên cửa Sấm (Long đằng Lôi Môn) thì có mưa, có sấm. Đinh tới Đằng Xà địa bàn thì có chớp nháy. Gặp cửa hung, tới  Đằng Xà địa bàn là Rồng sấm phát rồng giao chấn quái (Lôi Long phát giao chấn quái). Rơi vào cung Không Vong Mộ khố thì mây mù không mưa.

Tháng Đông, xem sao Thiên Tâm và Thiên Nhậm thổ, có tới Nhâm Quý, dưới có Nhâm Quý, hoặc gặp Huyền Vũ, Bạch Hổ thì là Thủy Thổ kết đọng làm tuyết. Không vong vào Mộ thì lạnh âm.

Lai xem thấy Hổ trắng gào cuồng (Bạch Hổ xướng cuồng) thì gió to. Rồng xanh chạy trốn (Thanh Long Đào Tẩu) thì nổi gió, mây tan, không mưa. Bạch vào Huỳnh thì mưa đá, Huỳnh vào Bạch thì tạnh.

Nếu Thiên Trụ quanh đến cung 1-3-7 dưới có Nhâm Quý, hoặc dưới là cung Nhâm Quý không thấy Nhâm Quý mà thấy Đằng Xà thì cầu vồng mọc, không mưa. Như cung tới mà dưới có Chu Tước, hoặc rơi vào Không vong thì khô nỏ, không mưa, nếu cố cầu thì có tai lửa.

Xem dựng lò vôi

Phép xem lấy cửa Cảnh làm chủ.

Cửa Cảnh được khí vượng tướng, có ba kỳ cách cát đến sinh Can ngày Niên Mệnh ta thì cát, dựng được. Nếu tới thần hung , cách hung khắc Can ngày Niên Mệnh ta thì hung.

Gặp cách sẻ đỏ lao sông (Chu tước đầu giang). Rắn bay uốn éo (Đằng xà yêu kiều) thì hung lắm, đoán là không dựng được.

 

Tiện ích Bambu
Tin liên quan
Bạn cần tìm kiếm?
Advert Advert2 Advert3
TextLink
BAO LA VẠN SỰ

Mobile: 0913 290 384  /  Email: tranngockiem57@gmail.com hoặc tuvan@phuclaithanh.com

Copyright © 2014   BaoLaVanSu. Thiết kế và phát triển bởi Bambu®