tư vấn bao la vạn sự

Kỳ môn độn giáp

Xuất hành hô thần vào Thái âm

Cập nhật : 09/10/2014
Khi xuất hành đi về một phương nào, hô tên tự thần phương ấy, mà đi 60 bước, chuyển tả, vào trong Thái âm
 Xuất hành hô thần vào Thái âm

Khi xuất hành đi về một phương nào, hô tên tự thần phương ấy, mà đi 60 bước, chuyển tả, vào trong Thái âm, Độn dương, trước 2 vị là trong Thái âm. Độn Âm thì sau 2 vị là trong Thái âm.

Lại sáu Đinh cũng là Thái âm, hô tên tự Thần, giờ lúc dùng. Tinh trên Thiên bàn là tên tự.

                     Thiên Bồng tự Tử Cầm                       Thiên Cầm tự Tử Công

                     Thiên Nhuế tự Tử Thành                    Thiên Trụ tự Tử Thân

                     Thiên Xung tự Tử Kiều                       Thiên Nhậm tự Tử Vi

                     Thiên Phụ tự Tử Khanh                      Thiên Ương tự Tử Uy

                     Thiên Tâm tự Tử…

Giả như Đông chí Độn Dương, thượng nguyên, ngày Giáp Kỷ, giờ Bính Dần. Lúc ấy, Sáu Bính tới cung 8. Lấy Thiên bàn Giáp Tý Mậu Thiên bồng bay trên cung 8. Muốn đi về phương Đông Bắc thì hô tên tự thần là Tử Cầm, đi 60 bước, vào trong Thái âm. Lúc ấy lùi lại 2 cung là Thái âm ở cung 4 (nên án 9 cung bầy mà đi từ cung Khảm 1) tức thì hướng về tả, vào Đông Nam.

              

Xuất hành, hô tên thần 10 can trong 12 giờ

Giáp là Thần Thiên Phúc - Vương Văn Khanh.

Ất là thần Thiên Đức - Long Văn Khanh.

Bính là thần Thiên Uy - Đỗ Đường Trọng Khanh.

Đinh là thần Thiên Ngọc - Nữ Lý Du Điền.

Mậu là thần Thiên Vũ - Tư Mã Dương.

Kỷ là thần Minh Đường – Kỷ Du Khanh.

Canh là thần Thiên Hình – Châu Du Dương, Quách Dương Chi.

Tân là thần Thiên Đình – Cao Tử Cường.

Nhâm là thần Thiên Lao – Vương Lộc Khanh.

Quý là thần Thiên Ngục – Viên Cường, Viên Tử Quang.

 

Thân âm Sáu Giáp (Lục Giáp Âm thần)

Tuần Giáp Tý, thần âm Đinh Mão, đầu Thỏ thân người, tên là Khổng Lâm Tộc, tự là Văn Bá.

Tuần Giáp Tuất, thần âm là Đinh Sửu, đầu Trâu thân người, tê là Lương Khâu Thúc.

Tuần Giáp Thân, thần âm là Đinh Hợi, đầu lợn thân người, tên là Lục Thành, tự là Văn Công.

Tuần Giáp Ngọ, thần âm Đinh Dậu, đầu gà thân người, tên là Phí Dương, tự là Văn Thông.

Tuần Giáp Thìn, thần âm là Đinh Mùi, đầu dê thân người, tên là Vương Khuất Kỳ, tự là Văn Khanh.

Tuần Giáp Dần, thần âm Đinh Tị, đầu Hổ thân người, tên là Hứa Hàn Trì, tự là Cự Khanh.

 

Tên Thần Độn  Giáp Môn hộ

Khi xuất hành, hành sự nên dùng.

Tuần Giáp Tý: tên Môn là Tử Nghị. Tên Hộ là Công Tôn Tế. Cởi cáo mà qua, cát.

Tuần Giáp Tuất: Tên Môn là Thiên Khả. Tên Hộ là Từ Khả. Ngửa mặt lên trời, hô to mà qua, cát.

Tuần Giáp Thân: tên Môn là Tư Mã Quang. Tên Hộ là Thạch Chiến. Cởi áo mà qua, cát.

Tuần Giáp Ngọ: tên Môn là Thạch gia. Tên Hộ là Tử Khả. Cởi áo, nhẩy mạnh mà qua, cát.

Tuần Giáp Thìn: tên Môn là Công Tôn Thác. Tên Hộ là Tư Mã Thắng. Xõa tóc rối kết lại mà qua, cát.

Tuần Giáp Dần: tên Môn là Công Tôn Quang. Tên Hộ là Tư Mã Cường. Cởi đai lưng mà qua, cát.

Làm đại tướng, khi ra vào và hành binh, không cứ nhiều ít, phương đến nơi, tất có phép đỡ. Lấy 6 làm Pháp.

Đại tướng dàn sĩ tốt vòng bên tả, vào Thái âm, hô tên Thần Môn hộ, chú rằng:

Giáp X….có gấp, mời Thần giúp ta, đỡ ta, che ta, giấu ta, đừng để kẻ địch là thương ta, đè ta, úp ta,, năm quân đẩy bẻ đừng để tới ta. Đương ta thì chết. Nhìn ta thì mù. Khiến kẻ địch mờ mờ lặng lặng. Nhìn ta thì mê hoặc, vì ta mà loạn hồn phách, kiến kẻ địch không dám ngóc dậy.

(Chú viết: Mỗ giáp, hữu cấp, thỉnh thần tá ngã, hựu ngã, nặc ngã, tàng ngã, vô sử địch nhân thương ngã, phủ ngã, cái ngã, ngũ binh thôi chiết, vô linh chí ngã. Dương ngã giả tử. Thị ngã giả vong. Sử địch nhân minh minh mặc mặc, thị ngã mê hoặc, vị ngã loạn kỳ hồn phách, sử địch nhân bất cảm khởi).

Niệm chú xong, khiến sĩ tốt đi thẳng vòng bên tả, đừng quay đầu lại, giấu ở dưới sáu quý. Như Giáp Tý thì Quý Dậu loại ấy.

 

Phép sáu Giáp âm phù

Kinh nói:

Làm đại tướng, khi ngăn giặc, nên làm sáu Giáp âm phù, khiến kẻ địch thân bị giết. Cho nên nói ngàn vàng không dạy người. Âm của sáu Giáp ở giữa khoảng trời đất. Đạo này linh lắm, cất trong trap vàng, quý ở trong tâm, không truyền cho hạng phi nhân. Đừng có nhẹ dạ để lộ ra ngoài. Nhìn trộm cũng mù, đọc trộm thì dịch.

Ví làm sáu Giáp âm phù, nên lòng thành trai giới để mong phúc trời. Hơi có ô uế, không trong sạch thì đừng hòng linh nghiệm.

Khi làm phù phải chọn giờ Nguyệt thực, chặt gỗ ngô đồng và các loại gỗ đỗ kinh, chọn cành âm, hoặc lõi gỗ Bách cũng được, phải dài 9 thốn, rộng 2 thốn, dày 3 phân. Dùng thư hoàng (hung hoàng) bôi lên làm tượng, và viết cả tên dưới hình tượng (tức như Đinh Mão âm thần Khổng Lâm Tộc). Vẽ theo hình tượng và đề tên. Làm phù xong, may túi gấm đựng. Đại tướng đeo bên thân. Khi dùng binh, lấy phù thần âm của bản tuần ra ngoài túi, trỏ vào quân địch, địch tự tan không dám giao binh.

Khi lấy gỗ, trước trai giới. Lấy rượu 1 đấu, nem hươu 3 cân, muối 1 chén mà tế cầu. Giải chiếu cỏ, hướng về Bắc, vái mấy vái mà chú trước cây Đỗ - Kinh rằng:

“Hỡi thần trăm quỷ, với con cùng đi. Biến hóa thân kia, do con bảo chỉ, mọi loài phục vụ. Rượu tốt nem ngon, cùng là muối mỹ. Mong hưởng đủ vị.”

Chú xong lại bái, chú ba lượt xong thì chặt cây, chớ để ô uế, mà cũng đừng để gần vật ô uế, cùng là đàn bà, gà chó trông thấy.

Lại phép thụ trì: Trai giới 5 ngày, tháng lan tắm rửa. Ăn uống thức tinh khiết. không  ăn 5 giống cay trần tục. Và viết vẽ xong vào ngày Sáu Giáp. Nửa đêm, làm chay trên đàn vuông. Làm đàn pháp 1 trượng 2 xích, ngoài đắp đất 12 trường, mở 12 cửa. lấy que trúc dài 3 xích hay 9 xích, cắm quanh 4 hướng. Đem phù sáu âm đặt trên đàn theo sáu ngôi. Lấy 5 mầu vẽ ô, mỗi ô 3 xích 5 thốn. Trên bày rượu 3 chén, nem 2 cân, muối 1 chén. Cỏ trắng làm chiếu. Hướng về Bắc, quỳ và hô tên thần Chi 4 phương và tên thần Sáu Âm sáu Giáp và tên thần Môn hộ mà tế.

Giả như Giáp Tý Thần âm là Đinh Mão, hướng về chính Đông, vái mấy vái, hô tên Thần và chú. Lấy gấm đỏ làm túi đeo âm phù vào thân thì trăm quỷ không dám phạm tới. Lấy âm phù trỏ địch thì kẻ tự duyệt. Như thảng thốt không đàn thì tới giữa sân hoặc ngoài đồng vạch đất làm đàn cũng được.

 

Phép chân nhân bộ đẩu (người bước chân đẩu)

Kinh Bộ Đẩu nói: Phép Bộ Đẩu có thể thông thần.

Phải vào nửa đêm sao sáng, dưới làm đàn, vạch đất làm hình sao Bắc đẩu bảy ngôi. Các ngôi cách nhau 3 xích. Thiên Bồng theo Thiên Cương khởi, thứ tự tùy theo mà bày. Trước Khôi bày nghịch xong, đứng ngày thẳng trên Thiên Ương thì trước cất chân trái mà đọc chú tiếp. Nhẹ nhàng trái phải thay đổi mà giẫm. Như phép mà làm. Trăm ngày thì Người Thần tự nhiên cảm thông. Giữ bí, đừng tiết lộ với bọn phi nhân mà ương tới 9 họ. Nhìn trộm mắt mù.

Chú rằng:

               Đẩu yêu diệu tìm 12 thần,

               Được sáng lạn nơi Huyền vũ trần.

               Khí phảng phất kìa như phù vân,

               Bẩy biên động kìa ứng trời trên.

               Biết biến hóa mà có cát hung,

               Vào Tú Đẩu rồi qua Thiên quan.

               Hợp Luật Lã mà trị Giáp Ất,

               Giẫm Thiên Cương mà độ Thiên Nhậm.

               Vực lạnh trong mà đất lắng trầm,

               Chống Thiên teuj mà đỡ Thiên tâm.

               Từ đó độ mà lên Thiên Cầm,

               Tựa Thiên Trụ mà ngóng Thiên Xung.

               Vào Thiên Nhuế mà ra Thiên Bồng,

               Đẩu đạo chông mà mềm rắn đỡ.

               Ra mờ tỏ mà ngàn vạn tuế,

               Kíp kíp như luật lệ

Thần chú Kỳ Đinh

Khi có việc ra đi, đem tên Ngọc Nữ bản tuần, như Tuần Giáp Tý, âm ở Đinh Mão, mà chú rằng:

“Đinh Mão ngọc Nữ, giúp ta, đỡ ta, đừng để làm thương ta. Nhìn ta thì mù, nghe lắng ta thì chịu tai ương”.

“Đinh Mão Ngọc Nữ, Hộ ngã hựu ngã, vô linh thương ngã, thị ngã giả cổ, thính ngã giả phản thụ kỳ ương”.

Chú xong, thì đi, đừng ngoảnh lại, Thần ấy theo đỡ, theo được phúc lớn.

Như trong Tuần Giáp Tuất thì hô Thần Đinh Sửu, chu như trên. Ngoài ra phỏng thế.

 

Thần chú kỳ Ất

               Thần uy Thiên đế, giết sạch quỷ tặc,

               Sáu ất cùng phù, Đạo trời giúp sức.

               Lệnh ta phải theo. Không công chớ chống,

               Cấp cấp như Huyền Nữ luật lệnh.

(Thiên đế uy thần, Tru duyệt quỷ tặc, Lục ất tương phù. Thiêndddaoj tán đức. Ngô lệnh sở hành. Vô công bất khắc. Cấp cấp như Huyền nữ luật lệnh)

 

Thần chú kỳ Bính

               Đức ta Trời trợ, trước sau đón xét,

               Rồng xanh Hổ trắng, Tả Hữu đuổi ma.

               Chu tước đi trước. Hội với người ta,

               Uy trời trợ ta, Sáu Bính trừ bệnh

               Cấp cấp như Huyền Nữ luật lệnh.

(Ngô đức Thiên trợ - Tiền hậu giá la – Thanh long bạch hổ - Tả hữu khu ma. Chu tước tiền đạo – Sử ngô hội tha – Thiên uy trợ ngã – Lúc Bính trừ kha. Cấp  cấp như Huyền Nữ luật lệnh).

 

Thần chú Cô Hư

                        Trời linh linh, Đất linh linh. Cô hư! Cô hư.

                        Thần cứ ý như ý ta.

                        Thần không rời tả hữu ta.

                        Cấp  cấp như luật lệnh.

(Thiên linh linh, địa linh linh, cô hư, cô hư. Thần cử ý như ngô ý. Thần bất ly ngô tả hữu, cấp cấp như luật lệnh).

Khi niệm các chú nên đi thẳng, không được ngoảnh cổ lại. Ngoài 60 bước mới thôi.

 

Chú ca Ba Kỳ Môn cát

Kinh nói:

Ra cửa Sáu Ất, bước Vũ, ba chú rằng:

“Hổ trắng! Hổ trắng! lối ta đi, trước nên tôn trọng.

Chớ lầm nhận kẻ sĩ có đức, lại cùng trợ.

Ra mờ vào tối (1) cùng giao trợ. Kíp Kíp như Cửu thiên huyền nữ nguyên quân luật lệnh”.

(Bạch hổ ! Bạch hổ! Trừ đạo lộ. Dương tiến tôn lộ. Vật ngộ hữu đức chí sĩ, lai tương trợ. Xuất u nhập minh giao tương trợ. Cấp Cấp như Cửu thiên huyền nữ nguyên quân luật lệnh).

1-4 chữ xuất u nhập minh này, bản nguyên viết là Xuất u minh minh.

Ra cửa Sáu bính, Bước vũ, 3 chú rằng:

               “Trước có Thiên cương dương oai võ,

               Phải đi theo Thanh long và Bạch hổ.

               Giết sạch giặc trời và ma trời,

               Dám không phục tòng, búa trời bổ.

               Kíp kíp như Cửu Thiên huyền nữ nguyên quân luật lệnh.

(Tiên hữu Thiên cương dương uy võ. Dương tong Thanh long dữ bạch hổ hành. Tru Thiên tặc cập thiên ma. Cảm hữu bất tòng phục, thiên phú. Cấp cấp như Cửu Thiên huyền nữ Nguyên quân luật lệnh).

Ra cửa Sáu Bính, bước Vũ, 3 chú rằng:

               “Nàng Ngọc ! nàng ngọc!

               Tên thần mẹ hô lên mà hỏi,

               Đạo ta vẫn thường từ chuôi Đẩu vào bọng Đẩu.

               Vực trong lạnh thẳm có nhiều thần.

               Bế cỏ để tự che, chớ kinh ngộ.

               Kíp kíp như Cửu thiên huyền nữ Nguyên quân luật lệnh.

(Ngọc nữ ! ngọc nữ! danh thần mẫu hô nhi vân chi. Đạo ngộ sở thường tong đẩu thược, nhập đẩu lý. Thanh lánh chi uyên đa thần. Chiết thảo dĩ tự chướng, vật kinh ngộ. Cấp cấp như cửu thiên huyền nữ nguyên quân luật lệnh).

Kinh nói:

Ra ba kỳ môn cát, hoặc có việc gấp không kịp chú, cũng có thể cứ đi, nhưng cần chí tâm tin theo tất nghiệm. Cần là chớ có ngoảnh lại.

Khi niệm chú, nên bước vũ, tay hữu vạch 4 dọc 5 ngang mà đọc:

               “Bốn dọc năm ngang, Sáu Giáp Sáu Đinh,

               Huyền vũ chở đạo. Suy vưu lánh binh.

               Tả khoái Nam Đẩu, Hữu theo 7 tinh,

               Tà ma mất tích, quỷ quái lặn hình.

               Can không dám phạm. Chi chẳng dám xâm.

               Thái thượng có sắc. Lệnh ta chỉ làm.

               Vào nước không đắm, vào lửa không bùng,

               Nghịch ta thì chết. Thuận ta thì sống.

               Đương ta thì diệt. Ngó ta mắt mù.

               Kíp kíp như Thái thượng đạo tổ Thiết sư thượng đế luật lệnh”

(Tứ tung ngũ hoành. Lục Giáp Lục Đinh. Huyền Vũ tải đạo. Suy vưu tị binh. Tả huyền nam đẩu. hữu bội thất tinh. Yêu ma duyệt tích. Quỷ tý tiềm hình. Can bất cảm phạm. Chi bất cảm xâm. Thái thượng hữu sắc. Ngô lệnh chỉ hành. Nhập thủy bất nịch. Nhập hỏa bất phân. Nghịch ngô giả tử. Thuận ngô giả sinh. Đương ngô giả quyệt. Thị ngô giả manh. Cấp cấp như Thái Thượng đạo tổ Thiết sư Thượng Đế luật lệnh”.

Niệm xong thì niệm các thần chú trước, hoặc Ất, Hoặc Bính, hoặc Đinh, Ba Kỳ, tùy niệm tùy hành, cẩn thận chớ có quay đầu lại.

Ngày đơn thì 5 ngang Đông tây. 4 dọc Nam Bắc.

Ngày kép thì 5 ngang Nam Bắc, 4 dọc Đông Tây.

Chú rằng:

               “Vua vũ rút đường. Ta nay ra đi,

               Bốn dọc năm ngang. Suy vưu đủ binh.

               Chạm ta thì tử. Lánh ta thì sinh,

               Ta đi dưới Trời. Trở về cố hương.

               Kinh mời Nam Đẩu sáu chàng, Bắc đẩu bảy tinh.

               Ta vâng Thái thượng lão quân. Kíp kíp như luật lệnh”

(Vũ vương giảm đạo. Ngô kim xuất hành. Tứ tung Ngũ hành. Suy Vưu bị binh. Chàng ngô giả tử. Tị ngô giả sinh. Ngô du thiên hạ, hoàn quy cố hương. Kinh thỉnh nam đẩu lục lang, bắc đẩu thất tinh. Ngô phụng Thái thượng lão quân. Cấp cấp chủ luật lệnh).

Tay trái bấm chữ bản nhật (thần chi của ngày này), dở tay phải, vân ngón tay vạch ngang.

Hai chú trên, đại đồng tiểu dị, tùy ý mà dùng.

 

Cục Ngọc nữ phản bế

Ngày Tý      Ngọc nữ ở   Canh, Thiên môn ở Bính,   Địa hộ ở      Ất

Ngày Sửu........................ Tân     ....................... Bính    ..............       Ất.

Ngày Dần........................ Kiền    ....................... Bính    ..............       Canh  

Ngày Mão....................... Dần     ....................... Canh   ..............                   Đinh

Ngày Thìn....................... Quý     ....................... Canh   ..............                   Đinh

Ngày Tị........................... Cấn     ....................... Canh   ..............                   Nhâm

Ngày Ngọ........................ Giáp    ....................... Nhâm  ..............                   Tân

Ngày Mùi........................ Ất        ....................... Nhâm  ..............                   Tân

Ngày Thân...................... Tốn     ....................... Nhâm  ..............                   Thân

Ngày Dậu........................ Bính    ....................... Giáp    ..............                   Quý

Ngày Tuất....................... Đinh   ....................... Giáp    ..............                   Quý

Ngày Hợi........................ Khôn  ....................... Giáp    ..............                   Bính

Trong khi Âm Dương 2 độn không được kỳ môn. Khi phải nhập xuất, dùng cục Ngọc nữ phản bế thì xuất nhập sẽ được trinh cát. Làm thượng tướng tất phải biết để giữ vạn toàn.

Khi được Kỳ mà không được Môn, hoặc có Môn không Kỳ, đều gọi là không được Kỳ Môn.

 

Phép ẩn náu giấu hình

Ngũ Tử Tư nói:

Ví muốn ẩn náu giấu hình, nên cưỡi Thanh long (sáu Giáp), trải Bồng tinh (sáu Ất), qua Minh đường (sáu Bính), nép Thái âm (sáu Đinh), ra Thiên Môn (sáu Mậu), vào Địa hộ (sáu Kỷ), đánh Thiên hình (sáu Canh), dứt (phán) Thiên Đình (sáu Tân), buộc Thiên lao (sáu Nhâm), lấy cỏ bẻ một nửa che mình, một nửa vào Thiên tàng (6 Quý), từ dưới Thiên tàng chạy về phương Nguyệt yểm (tháng Giêng ở Tuất, mỗi tháng chuyển ngược), có thể giấu thân. Nguyệt yểm với Thiên hỷ cùng.

Giả như ngày Sáu Giáp, giờ Giáp Tý, muốn nép giấu, Sơ khởi từ Giáp Tý, trải Sửu, qua Dần, Phục Mão, ra Thìn, vào Tị, lấy cỏ bẻ nửa che thân, đặt đất Mão, vào đất Dậu, thì ra vào không ai thấy.

               Qua Thái âm thì chú rằng:

               Trời bay đất úp, chín lối đều tắc,

               Người đến Bách ta. Đến đây là cực.

               Nhìn ta thì mù. Dưới ta thì chết,

               Ta vâng Cửu thiên huyền nữ đạo màu nguyên quân luật lệnh.

(Thiên phiên địa phú, Cửu đạo giai tắc, Hữu lai bách ngã. Chỉ thử nhi cực. Thị ngã giả manh, truy ngã giả vong. Ngô phụng cửu thiên huyền nữ, đạo màu nguyên quan luật lệnh).

Chú xong nhẹ nhàng vào Thiên tàng, chớ có ngoảnh lại. Canh là Thiên ngục, Tân là Thiên đình, Nhâm là Thiên lao đều nên tránh. Đừng có hướng đến mà bị bắt trói.

 

Thiên Mục, Địa nhĩ

                      Thiên mục là Khách, Chủ: Địa nhĩ.

                      Sáu Giáp mà suy, không sai lý.

                      Khuyên ai tìm hiểu lẽ huyền cơ,

                      Thấu suốt Chín Cung, bậc Tể Phụ.

                      Mão là Thiên mục, Dậu là Địa nhĩ.

Lại sáu Giáp là vị Thanh long. Sáu Canh là vị Thiên Mục. Sáu Quý là vị Địa nhĩ, lại là vị Hoa cái. Sáu Mậu là vị Thiên môn. Sáu Kỷ là vị Địa hộ.

Trong tuần Sáu Giáp thì:

Canh là Thiên mục. Mậu là Địa nhĩ. Bính là Tam hình, chủ chiến. Như tuần Giáp Tý, vào doanh phương Mão là vị của sáu Đinh.

Phàm khi cướp doanh giặc, khiến người quỷ không biết, thì theo dưới phương vị sáu Bính, hoặc Thái âm mà vào doanh. Hoặc theo từ phương Thiên mục Địa nhĩ mà vào.

Lại muốn cướp doanh thì từ các phương Thiên mục Địa nhĩ, Thiên môn, Địa hộ, Thanh long, hoa cái, Cửu thiên mà vào thì cát.

 

Phép chín thắng

Hoàng đế nói: hành binh cần tựa vào thiên mục, hướng về Địa nhĩ.

Tuần Giáp Tý   Thiên mục ở  Canh Ngọ    Địa nhĩ ở  Mậu Thìn.

Tuần Giáp Tuất....................... Canh Thìn   ................. Mậu Dần.

Tuần Giáp Thân...................... Canh Dần    ................. Mậu Tý.

Tuần Giáp Ngọ                                             Canh Tý..          Mậu Tuất.

Tuần Giáp Thìn...................... Canh Tuất   ................. Mậu Thân.

Tuần Giáp Dần                                             Canh Thân                    Mậu Ngọ.

 

Phép bói ốc

Tìm trong ruộng lấy con ốc lớn màu đỏ. Lúc bắt, kỵ đàn bà, con hiếu tang, gà, chó trông thấy.

Khi bói để xem thắng bại, bắt 2 con ốc để vào trong bàn. Vạch ngang một đường, bên trái là ta, bên hữu là địch. Trong bàn đổ nước nhiều, cao 1 thốn. Cho ốc vào mỗi bên 1, mà chú rằng:

“Ốc nhồi máy máy. Biết được gió mưa. Giặc mà qua đây. Vào cảnh giới ta. Ốc nhồi tách tách. Gió mưa chẳng sờn. Giặc mà không đến. Riêng coi thành quách”.

Chú xong đợi đến sáng hôm sau, theo phép mà đoán. Nếu Ốc bên giặc vào cảnh giới bên ta thì không thể chiến. Nên cố thủ. Ốc bên ta vào cảnh giới bên địch, thì gấp công đi.

Mùa Xuân đầu ốc hướng về Đông thì đại lợi. Hướng về Nam có kinh sợ. Hướng về tây bị giặc. Hướng Bắc, khá tốt.

Mùa Hạ đầu ốc hướng về Đông, khá cát. Hướng Nam lợi lớn. Hướng tây giặc đến phá ta. Hướng Bắc có kinh sợ lớn.

Mùa Thu đầu ốc hướng Tây, đại lợi. Hướng Nam có thần trợ. Hướng Đông đại cát, được của. Hướng Bắc chiến thắng, ta nên giữ.

Mua Đông đầu ốc hướng Bắc, đại lợi. Hướng Tây bình an. Hướng nam giặc tan. Hướng Đông kinh hãi nhỏ, nên cố thủ, cát.

Ngày Giáp Ất, đầu ốc hướng Đông, giặc đến gấp, không nên chiến. Hướng Nam, trong 5 ngày giặc đến. Hướng Tây 14 ngày giặc đến. Hướng Bắc giặc không đến.

Ngày Bính Đinh, đầu ốc hướng Nam, 9 ngày đi. Hướng Tây 7 ngày đi. Hướng bắc, ngày hôm nay đến, giao chiến thì ta thắng, địch bại. Hướng Đông giặc tan.

Ngày Mậu Kỷ, nên cố giữ.

Ngày Canh Tân, đầu ốc hướng Tây, cùng địch ngang sức. Hướng Bắc, giặc tan. Hướng Nam giặc đến rồi lại đi. Hướng Đông, có giặc, đánh lớn.

Ngày Nhâm Quý, đầu ốc hướng Nam, giặc không thắng mà đi. Hướng Tây, giặc không lại. Hướng Đông, mỗi bên giữ một phương. Hướng Bắc nên bình.

 

Phép nhượng dịch

Kinh nói:

Xuất quân mà bị dịch lệ, truyền nhiễm, chết. Gọi chúng mà rằng: khí quân phải ở trên đầu gió, đốt một ít đầu lâu người chết, khí quân tan ngay.

 

Phép đóng ở thanh long

Khi ra Thiên Môn, vào Địa hộ, qua Thái âm, đóng ở Thanh long. Kinh nói:

Mới đầu (sơ binh) ra Thiên môn sáu Mậu, vào Địa hộ sáu Kỷ. Qua Thái âm sáu Đinh. Đóng ở Thanh long sáu Giáp, đóng (cứ) ở dưới, trăm chiến trăm thắng.

Giả như Đông chí thượng nguyên, ngày Giáp Kỷ, nửa đêm, sinh Giáp tý, mới khởi binh, ra Thiên môn đất Thìn. Vào Địa hộ đất Tị. Qua Thái âm đất Ngọ (cái này phải là đất mão mới đúng vì tuần giáp tý thì là Đinh Mão, chắc người dịch viết nhầm). Đóng Thanh long đất Tý thì trăm chiến trăm thắng.

Lại một phép khác:

Ra Thiên môn là Cấn (phải là Khảm mới đúng), sáu Mậu trên trời ở cung 1.

Vào Địa hộ trên Trời, ở cung 2.

Qua Thái âm trên Trời, ở cung 7.

Đóng ở Thanh long trên Trời, ở cung 1.

Ngoài ra phỏng thế.

 

 

 

 

 

Tiện ích Bambu
Tin liên quan
Bạn cần tìm kiếm?
Advert Advert2 Advert3
TextLink
BAO LA VẠN SỰ

Mobile: 0913 290 384  /  Email: tranngockiem57@gmail.com hoặc tuvan@phuclaithanh.com

Copyright © 2014   BaoLaVanSu. Thiết kế và phát triển bởi Bambu®